Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

VÔNG NEM-Erythrina variegata-Chữa mất ngủ

VÔNG NEM



Tên khoa học: 

Erythrina variegata L.; Họ: Đậu (Fabaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Corallodendron orientale(Linnaeus) Kuntze; Erythrina corallodendron Linnaeus var. orientalis Linnaeus; E. indica Lamarck; E. loureiroi G. Don ["loureiri"]; E. orientalis(Lin­naeus) Murray; E. variegata var. orientalis (Linnaeus) Merrill.

Tên khác: 

Lá vông, hải đồng, thích đồng, co toóng lang (Thái), bơ tòng (Tày).

Tên nước ngoài: 

Indian bean, indian coral - bean, mochi wood tree, East Indies coral tree (Anh); arbre au corail, arbre immortel, érythrine au corail, érythrine orientale, bois rouge (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây nhỡ hay cây to, rụng lá, cao 5 - 8 m có khi hơn, Thân nhẵn, màu xám nhạt, có gai ngắn. Lá kép, mọc so le, có 3 lá chét gần hình tam giác, mép nguyên, lá tận cùng rộng hơn dài, hai lá bên dài hơn rộng, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng.
Cụm hoa mọc ngang ở kẽ lá và đầu cành thành chùm dày, cứ 1 - 3 hoa ở một mấu; lá bắc nhỏ, sớm rụng; hoa nở trước khi cây ra lá, màu đỏ chói; đài hình ống có 5 răng nhỏ; tràng dài, cánh cò rộng, nhị tập hợp thành bó vượt ra khỏi tràng.
Quả đậu, màu đen, thót lại ở gốc và thắt lại giữa các hạt; hạt 5-8, hình thận, màu đỏ hay nâu.
Mùa hoa quả: tháng 3 - 5 .

Phân bố, sinh thái:

Chi Erythrina L. có khoảng 110 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ khoảng 70 loài, sau đến châu Phi 32 loài, châu Á 18 loài, trong đó Việt Nam có 6 loài và Malaysia 8 loài. Phần lớn các loài là cây mọc tự nhiên, một vài loài được trồng để làm cảnh.
Vông nem có nguồn gốc ở vùng ven biển Đông Phi, phân bố khắp từ châu Phi đến vùng nhiệt đới Nam Á (Ấn Độ, Xrilaca), Đông Nam Á (Malaysia, Thái Lan, Philippin, Indonesia, Papua Nui Ghinê, Lào, Campuchia) các đảo ở Thái Bình Dương, Australia (Queensland) và cả ở phía nam Trung Quốc, ổ Việt Nam, vông nem mọc tự nhiên và được trồng rải rác khắp các tỉnh thuộc vùng núi thấp (dưới 1000 m), trung du và đồng bằng. Cây thường được trồng làm bờ rào ở nương rẫy, vườn nhà. Ngoài ra, ở vùng tây Quảng Bình, Tây Nguyên có người trồng vông nem làm giá để cho hồ tiêu hoặc trầu không leo.
Vông nem là cây ưa sáng và phân cành nhiều, thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm; giới hạn về nhiệt độ trung bình ở những nơi có vông nem thưòng khá rộng, từ 21 đến 26°C. Cây có khả năng chịu được nóng và khô, nhiệt độ tối cao trung bình đến 38°C; rụng lá về mùa khô hoặc mùa đông ở các tỉnh phía bắc. Đầu mùa xuân, khi chưa ra lá non cây đã bắt đầu có hoa. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc (bờ hồ Hoàn Kiếm - Hà Nội) thường rất lâu năm mới thấy hoa, song rất hiếm có quả. Vông nem có khả năng tái sinh dinh dưỡng khoẻ sau khi bị chặt phá, phần còn lại đều mọc thành cây chồi.

Cách trồng:

Vông nem được nhân giống dễ dàng bằng giâm cành. Chọn cành bánh tẻ, chặt thành từng đoạn 30 - 40cm, đặt nghiêng thành hàng dọc, lấp đất gần kín hom giống. Có thể trồng quanh năm, trừ thời kỳ mưa quá nhiều. Vào các tháng mùa khô, cần tưới ẩm.
Cây không cần chăm sóc, ít sâu bệnh. Lá thu hoạch quanh năm. Mùa đông, cây ngừng sinh trưởng.

Bộ phận dùng:

Lá, thu hái vào mùa xuân, dùng tươi hay phơi khô. Vỏ thân, cạo bỏ lớp bần, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô.
Hạt sao thơm.
Thành phần hoá học:
Lá vông nem chứa các alkaloid: erythrinin (Lâm Khải Thọ, 1976), erysothrin, 11-hydroxyerysothrin, erythralin, erysodin, N - nororientalin, erybidin (Ito Kazuo và cs, 1975).
Nguyễn Văn Tựu 1991, chiết xuất 2 alkaloid, dự đoán là erysothrin và hypaphorin.
Theo The Wealth of India vol.3, 1952, lá chứa albuminoid 16,73%, carbohydrat 37,12%, N, K hydroxyd 1,81%, acid phosphoric 0,5%.
Vỏ thân chứa erythralin, hypaphorin (Lâm Khải Thọ 1976), erysotin, erythratidin, epierythratidin, 11- hydroxyerythratidin (Chaula Amrik Singh và cs., 1988), crythrin.
Hoa chứa:
- Alkaloid: isococcolinin (Sharma Shiv. K. và cs., 1992), erythrol (Chawla H. Morindra và cs., 1993).
- Flavonoid: isorhamnetin-3-O-rhamnoglucosid, rutin, quercetin-4-O-glucosyl-3-O-rhamnoglucosid, quercetin (Abel Hafir và cs., 1983).
- Các hợp chất khác: 3 β-acetoxy-β-norcholest-5-en, acid capric, decosanoic Me ester, 29-norcycloartenol, β-sitosterol arachidat (Sharma s. K. và cs., 1993).
Hạt chứa:
- Alkaloid : hypaphorin (The Wealth of India, vol. 3, 1952), erythroidin, erythramin.
- Dầu béo, acid béo, chất vô cơ (Choudhory A.R. và cs., 1986)
Dầu béo từ hạt đỏ: 11,3% gồm các acid béo no 36,7%, các acid béo không no 63,3% (acid oleic 53,42%, acid linoleic 9,87%.
Dầu từ hạt trắng 12%
- 23 acid amin 21,97% (Abdel Hafir và cs., 1983)
Rễ chứa:
- Flavonoid: 5, 7, 4’- trihydroxy - 6, 8 - diphenylisoflavon (Telikepalli Hanumaiaah và cs., 1990)
- Các hợp chất phenol: eryvariestyren, erychristagalin, erythrabyssin II, phaseolin, phaseolidin, isobavachin (Telikepalli Haiiumaiaach và cs., 1990).
Gỗ chứa các chất thuộc nhóm pterocarpan là hydroxycristacarpon và orientanol A và các flavonoid là osajin, wighteon, daidzein.

Tác dụng dược lý:

Ở Việt Nam, Ngô Ứng Long (Trường Sỹ quan quân y - 1960) đã nghiên cứu tác dụng dược lý của lá vông và kết luận là lá vông có tác dụng ức chế thần kinh trung ương, làm yên tĩnh, gây ngủ, hạ nhiệt, hạ huyết áp, còn có tác dụng co bóp các cơ. Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, chuột lang, chuột cống trắng, thỏ, mèo, chó, khỉ đều không thấy hiện tượng ngộ độc. Trên súc vật thí nghiệm, nước sắc lá vông 10% có tác dụng làm co cứng cơ chân ếch và cơ thắt trực tràng. Còn theo tài liệu nước ngoài (Ấn Độ, Trung Quốc) vỏ thân vông nem có tác dụng làm giảm hoại động của hộ thần kinh trung ương. Dạng alkaloid toàn phần chiết từ vỏ thân cây vông nem dòng với liều 0,5 - 2,0 mg/kg có tác đụng ức chế sự co bóp của một cô lập thỏ và tử cung cô lập chuột cống trắng; với liều dùng 15mg/kg tiêm tĩnh mạch có tác dụng làm thỏ gục đầu. Chất erythrin có trong vỏ thân có tác dụng đối kháng với strychnin, do đó có thể dùng làm thuốc giải độc trong trường hợp ngộ độc strychnin (The Indian materia medica 1999 - P.508). Chất hypaphorin và một số alkaloid khác như erythroidin, erythramin... tồn tại trong hạt vông nem đều có tác dụng giống curare gây giãn cơ vân.
Dịch chiết nước từ vỏ thân vông nem (1:3) thí nghiệm trên ống kính, có tác dụng ức chế tụ cầu khuẩn và một số nấm gây bệnh ngoài da (Trung dược từ hải II trang 2307)
Ở Ấn Độ, lá vông nem được coi là có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, trị giun sán, lợi sữa và điều kinh. Hạt dùng tươi thì có độc, nhưng sau khi luộc hoặc rang lại có thể ăn được (The Wealth of India . V. II - P.195- 198)

Tính vị, công năng:

Theo y văn cổ truyền, lá vông nem có tác dụng sát trùng, tiêu cam tích.
Vỏ thân vông nem có vị đắng, cay, tính bình, vào các kinh; can, tỳ, có tác dụng khư phong thấp, thông kinh lạc, sát trùng.

Công dụng:

Từ lâu đời, lá vông nem đã được nhân dân Việt Nam dùng làm thuốc an thần, dưới nhiều dạng như sau: Lá vông nem (loại bánh tẻ) rửa sạch luộc hay nấu canh ăn chữa mất ngủ, nhức đầu, chóng mặt. Hoặc dùng cao lỏng lá vông ngày uống 2 - 4 g, rượu thuốc 1 -2g/ngày, thuốc hãm 2-4 g/ngày (hãm như pha trà), sữô lá vông (lá ngâm rượu rồi pha vổi sirô) ngày uống 20ml. Có thể dùng phối hợp với lạc tiên. Tất cả đều uống trước khi đi ngủ.
Lá vông phối hợp với lá sen sắc uống chữa chảy máu mũi, đại tiện ra máu, giã nát vắt lấy nước uống và chưng nóng bã đắp rịt vào hậu môn chữa lòi dom. Để chữa sa dạ con, lấy lá vông 30g, lá tiểu kế 20g, hạt tơ hồng 20g, giã nhỏ sắc với 400ml nước còn 100ml uống trong ngày; kết hợp lấy 10 hạt thầu dầu tía giã nát với giấm đắp băng lại. Hoặc lấy lá vông nấu với lá cỏ xước và cá trê, rồi ăn cả nước lẫn cái. Viện Quân y 108 (Hà Nội - 1960) dùng lá vông rửa sạch bằng thuốc tím, giã nhỏ với một ít cơm nguội đắp lên các vết loét đã chữa bằng phương pháp khác không khỏi, thấy vết loét chóng lên thịt non. Nếu đắp lâu ngày thịt có thể lên cao quá mức cũ.
Tuệ tĩnh (Nam dược thần hiệu) đã dùng vỏ cây vông già phối hợp với lá mần tưới, cỏ mần trầu, rễ ngưu tất, mỗi thứ 10 - 15g. Sắc nước uống, dùng cho phụ nữ sau khi đẻ sa sầm mặt mũi, choáng váng mờ mắt. Vỏ vông nem còn chữa phong thấp, chân tê phù, lưng gối đau nhức, lở ngứa.
Ở Trung Quốc, lá vông được dùng dưới dạng bột mỗi lần 1 - 3g, uống với nước đun sôi để nguội chữa cam tích ở trẻ em, trục giun đũa (Trung dược từ hải 11/716). Vỏ rễ vông nem, chữa đau lưng, đau khớp, đau răng, chân tê mỏi, co quắp, ở Ấn Độ, lá vông là thuốc lợi tiểu, lợi mật, lợi sữa, điều kinh, nhuận tràng, trị giun sán, chữa đau răng. Dịch ép lá vông chữa đau kinh và chữa vô sinh ở những phụ nữ béo phì bằng cách làm giảm trọng lượng mỡ trong cơ thể và tạo nên vòng kinh nguyệt bình thường, vỏ thân cây vông được dùng làm thuốc hạ sốt, chữa kiết lỵ, lợi đờm, tẩy giun đũa, giun chỉ và diệt sán (The Indian materia medica - 1999 - 508)

Bài thuốc có vông nem:

1. Chữa đau dữ dội vùng lưng và đầu gối:

Vỏ cây vông nem 60g; ngưu tất, xuyên khung, khương hoạt, địa cốt bì, ngũ gia bì, mỗi vị 30g; cam thảo 15g; ý dĩ nhân 60g; sinh địa 300g. Tám vị đầu rửa sạch, sao giòn bẻ nhỏ, sinh địa cắt thành lát mỏng. Tất cả lấy vải xô bọc, ngâm trong 2400ml rượu, mùa đông ngâm 27 ngày, mùa hè ngâm 17 ngày. Uống mỗi lần 50 ml, ngày 3 lần vào sáng, trưa và tối (Tục truyền tín phương - Trung Quốc).

2. Chữa chân co quắp không duỗi ra được:

Vỏ vông nem, đương quy, mẫu đơn bì, thục địa hoàng, ngưu tất, mỗi vị 30g; sơn thù du, bổ cốt chỉ mỗi vị 15g. Nghiền thành bột, mỗi lần dùng 3g, nước 160ml, hành 5g, sắc còn 100 ml. Bỏ bã uống lúc nóng.

3. Chữa một số bệnh ngoài da:

Vỏ vông nem, vỏ cây dâm bụt, xà sàng tử, rễ chút chít. Tất cả tán nhỏ, pha với rượu tỷ lộ 1:5. Dùng bôi ngoài.

4. Chữa đau răng:

Vỏ vông nem, tán nhỏ thành bột, rắc vào chỗ sâu.
5. Chữa rắn cắn:
Hạt hay vỏ vông nem thái nhỏ, đun vói một ít nước thành bột nhão đắp lên vết cắn.

6. Chữa kinh nguyệt không đều, rong kinh:

Hoa vông nem 15g, sắc nước uống (Lê Trần Đức)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam tập I, II

Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam 


LỜI NÓI ĐẦU

Nguồn dược liệu Việt Nam rất phong phú và đa dạng, bao gồm thực vật, động vật và khoáng vật. Trong đó, dược liệu từ cây cỏ vần cổ một vị trí quan trọng nhất về thành phần, chủng loại cũng như giá tri sử dụng.
Nước Việt Nam, phần dải liền, trải dài từ 8o30' đến 23o22' vĩ độ Bắc, phía đông và nam giáp biển Đông; tây giáp Lào và Campuchia, bắc giáp Trung Quốc. Diện tích hơn 330.000 km2. Trong đó, đồi núi chiếm gần 4/5. Khối núi cao nhất là Hoàng Liên Sơn, có đỉnh Fansipan 3143m.
Về khí hậu, Việt Nam nằm trong vành đai khí liậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm với nét đặc trưng thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở những vùng đất thấp phía nam đến các đặc điểm mang tính chất cận nhiệt đới ở các vùng núi cao phía bắc.
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và khí hậu nêu trên, đã tạo nên mức độ đa dạng cao về sinh học ở Việt Nam. Theo những nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học, ở Việt Nam có gần 11.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2000 loài tảo. Về động vật, có 224 loài thú, 828 loài chim, 258 loài bò sát và 5500 loài côn trùng... Trong đó nhiều loài được dùng làm thuốc.
Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau. Từ ngàn đời nay, họ đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng nguồn cây cỏ và động vật sẵn có để bổi bổ sức khỏe và làm thuốc phòng chữa bệnh. Song song với quá Irình lịch sử đấu tranh và xây dựng đất nước, vốn y học của cộng đồng này dần dần được tích lũy, hình thành và phát triển thành nền y dược học cổ truyền của dân tộc với đầy đủ cơ sở lý luận và được ghi chép trong nhiều y văn cổ, lưu truyền đến tận ngày nay.
Để kế thừa và phát huy vốn cổ truyền quý báu này, ngay sau ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước đã thiết lập một hệ thống các viện và trường đại học nhằm đi sâu nghiên cứu khai thác tiềm năng về dược liệu trong nước phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho toàn dân và xuất khẩu.
Trải qua nhiều năm điều tra nghiên cứu, tính đến nay ở Việt Nam đã có hơn 3800 loài thực vật bậc cao và bậc thấp (kể cả nấm) dược dùng làm thuốc, khoảng 406 loài động vật làm thuốc. Đa số các loài (cả thực vật và động vật) đều sống hoang dại. Một số cây thuốc quý, được nhập trồng phổ biến ở nhiều địa phương như bạc hà, bạch chỉ, bạch truật, đương quy, huyền sâm, ngưu tất, vân mộc hương, xuyên khung... cũng trở nên quen thuộc.
Rõ ràng, nguồn cây thuốc và động vật làm thuốc là nhóm tài nguyên phong phú và quý giá nhất trong toàn bộ hệ động - thực vật ở Việt Nam.
Ngoài sự phong phú về thành phần chủng loại, nguồn dược liệu Việt Nam còn có giá trị to lớn ở chỗ chúng được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng để chữa nhiều chứng bệnh khác nhau. Cây thuốc hay động vật làm thuốc đều được sử dụng dưới hình thức độc vị hoặc phối hợp với nhau tạo nên các bài thuốc cổ phương, còn tồn tại và thịnh hành đến ngày nay. Ngoài ra, hàng trăm cây thuốc đã được khoa học y - dược hiện đại chứng minh về giá trị chữa bệnh của chúng. Nhiều loại thuốc được chiết xuất từ dược liệu Việl Nam như rutin, D-strophantin, berberin, palmatin, L-tetrahydropalmatin, artemisinin, các sản phẩm từ tinh dầu đã dược sử dụng rộng rãi trong nước, và xuất khẩu. Xu hướng đi sâu nghiên cứu, xác minh các kinh nghiệm của y học cổ truyền và tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để làm thuốc từ dược liệu ngàv càng dược thế giới quan tâm.
Trải qua nhiều thập kỷ nghiên cứu và lích lũy kinh nghiệm, chúng tôi, gồm một số nhà khoa học về y - dược học, hóa học, sinh học, và nông học, đã tiên hành biên soạn bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” này với 1000 loài. Trong đó, 920 cây và 80 động vật được lựa chọn từ hơn 3000 loài cây thuốc và 400 loài động vật làm thuốc đã biết.
Những cây thuốc và động vật làm thuốc được sắp xếp theo thứ tự của bảng chữ cái tên Việt Nam. Mỗi loài được đề cập với các phần hợp lý như: lên gọi, mô tả, phân bố sinh thái, bộ phận dùng, thành phần hóa học, tác dụng dược lý, tính vị công năng, công dụng và các bài thuốc. Một số cây còn có thêm các phần: Cây dễ nhầm lẫn, cách trồng. Các cây thuốc và động vật làm thuốc đều có tranh vẽ kèm theo.
Bộ sách này chứa đựng một khối lượng lớn dữ liệu khoa học toàn diện về dược liệu, đặc biệt là cây thuốc, được tập hợp từ nhiều tạp chí khoa học có uy tín trong nước và trên thế giới. Đã tổng hợp kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong các nền y học cổ truyền của Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á và nhiều nước khác ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh. Đặc biệt, bộ sách cung cấp những thông tin khoa học rất phong phú và cập nhật cho đến những năm gần đây nhất về thành phần hóa học, tác dụng dược lý thực nghiệm và dược lý lâm sàng của cây thuốc.
Thông tin về thực vật có nhiều điểm mới như tập hợp tên địa phương theo từng dân tộc ở miền núi như Tày, Thái, Nùng, Mường, H’Mông, Dao (ở miền Bắc), K’Ho, K’Dong, Ba Na, Vân Kiều (ở miền Nam). Tranh vẽ có tính tỷ mỷ, sinh động, thể hiện một sắc thái mới, phù hợp với chất lượng của những thông tin, tư liệu về cây thuốc và động vật làm thuốc. Phần chống nhầm lẫn giúp việc nhận dạng cây thuốc dễ dàng và chính xác hơn. Những cây thuốc và động vật làm thuốc thuộc diện quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng đã được dặc biệt lưu ý, và đưa vào Sách Đỏ quốc gia để khẩn trương bảo vệ và lưu giữ nguồn gen.
Chúng tôi hy vọng bộ sách này sẽ góp phần gợi mở những hướng mới cho việc nghiên cứu chế tạo thuốc từ nguồn dược liệu trong nước, việc lựa chọn đề tài và xây dựng đề cương các luận văn khoa học, cũng như quy hoạch phát triển nguồn tài nguyên và sản xuất thuốc từ dược liệu. Chúng tôi cũng hy vọng bộ sách sẽ mang lại những thông tin thiết thực và bổ ích giúp bạn đọc kinh nghiệm sử dụng dược liệu trong phòng chữa bệnh ở cộng đồng.
Nhân dịp xuất bản bộ sách này, các lác giả xin chân thành cảm ơn và ghi nhận công lao của KS. TS. Tô Đăng Hải - Giám đốc NXB khoa học và kỹ thuật, người dã chủ động đề xuất, bàn bạc với nhóm tác giả về chủ trương biên soạn bộ sách này từ dầu thập niên trước. Trong quá trình thực hiện, ông rất quantâm đến việc biên soạn, biên tập, đầu tư tài chính, tạo điều kiện cho bộ sách dược ra đời sớm.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Viện Dược liệu đã lạo điều kiện cho việc biên soạn được thuận lợi.
Chúng tôi rất biết ơn PGS. TS, Bộ trưởng Bộ y tế Trần Thị Trung Chiến đã khuyên khích và viết lời giới thiệu cho bộ sách.
Tuy có nhiều cố gắng trong việc biên soạn song cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc, để lần tái bản sau được bổ sung đầy đủ và hoàn thiện hơn.


CÁC TÁC GIẢ

DSCKII. Đỗ Huy Bích: Phần thực vật, toàn bộ phần động vật và danh pháp
TS. Nguyễn Tập: Phần phân bố, sinh thái
TS. Phạm Văn Hiển, KS. Trần Toàn: Phần trồng trọt
GS. Vũ Ngọc Lộ, PGS, TS. Phạm Kim Mãn, PGS. TS. Nguyễn Thượng Dong: Phần bộ phận dùng, chê biến và thành phần hóa học
GS. Đoàn Thị Nhu, PGS Phạm Duy Mai, PGS.TSKH. Đỗ Trung Đàm: Phần dược lý, tính năng, công dụng và bài thuốc
DSCKII. Bùi Xuân Chương: Tranh vẽ. CN. Đặng Quang Chung: Thư ký biên tập

TẬP I: 460 CÂY VÀ 40 ĐỘNG VẬT

TẬP II: 460 CÂY VÀ 40 ĐỘNG VẬT

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

VỐI RỪNG-Syzygium cumini-thành phần hóa học, công dụng

VỐI RỪNG



Tên khoa học: 

Syzygium cumini (L.) Skeels; Họ Sim (Myrtaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Syzygium jambolanum (Lam.) DC.; Eugenia jambolana Lam.; Eugenia cumini (L.) Druce

Tên khác: 

Hậu phác nam.

Tên nước ngoài: 

Jambul, black plum, blackberry, Java plum, jambolan (Anh); jambol (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây to. Thân có vỏ dày, cành dẹt sau hình trụ, màu trắng mốc. Lá mọc đối, hình trái xoan hay hình trứng, dài 8-10 cm, rộng 3-9 cm, gốc tròn hoi thuôn, đầu tù có mũi nhọn ngắn, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt; lá già mỏng, màu nâu nhạt, có tuyến mờ ở mặt dưới; cuống lá dài 1 - 2 cm.
Cụm hoa mọc ở kẽ những lá đã rụng thành chuỳ thưa; hoa màu trắng; đài có răng nhãn nheo; tràng có 4-5 cánh dính nhau thành một khối hình vuông; nhị rất nhiều; bầu ẩn sâu trong đài.
Quả thuôn, hơi cong, lõm ở đỉnh; hạt 1 hình tròn.
Mùa hoa: tháng 3-8.

Phân bố, sinh thái:

Vối rừng có nguồn gốc ở vùng cận nhiệt đới Himalaya. Hiện nay, cây mọc tự nhiên và được trồng rộng rãi ở vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á, như Ấn Độ, Xrilanca, Malaysia, Thái Lan, Philippin, Campuchia, Australia và Việt Nam. Ở Việt Nam, cây phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía nam, từ Quảng Nam, Tây Nguyên đến vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Vối rừng thuộc loại cây gỗ lớn, phân cành sớm và nhiều, ưa sáng, sống được trên mọi loại đất. ở vùng núi thấp và trung du, cây mọc ở gần các bờ khe suối hoặc ven rừng thứ sinh gần nguồn nước. Tuy nhiên, cây có khả năng chịu hạn tốt khi đã trưởng thành, ở một số nơi thuộc Ấn Độ hay Xrilanca, cây sống được cả ò những khu vực lượng mưa một năm chỉ vào khoảng 1000 mm.
Vối rừng ra hoa quả nhiều. Mùa hoa quả của cây có thể thay đổi tuỳ theo vùng. Ví dụ ở Philippin, từ tháng 3 đến tháng 7; ở Java, tháng 7-11. Việt Nam: tháng 3-8. Hoa thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng. Cây mọc từ hạt, sau 7 - 8 năm mới bắt đầu có hoa quả, còn ở cây trồng từ cành chiết phải sau 2 - 3 năm. Vối rừng có hoa quả nhiều trong vòng 40 năm. Quần thể cây trồng có nhiều giống phân biệt với nhau bằng quả, khi chín màu tím đen, hay hơi trắng. Cây trồng ở Philippin và Indonesia chủ yếu để lấy quả chín ăn.

Bộ phận dùng:

Lá, vỏ thân (Fructus, Cortex et Folium Syzygii Cuminii), thu hái quanh năm. Còn dùng quả.

Thành phần hoá học:

Phần ăn được của quả chứa 83,7% nước, 0,7% protein, 0,3% chất béo, 0,9% sợi, 14% carbonhydrat, 0,4% tro, chất vô cơ gồm Ca 15 mg%, Mg 35mg%, p 15 mg%, Fe l,2mg%, Na 26mg%, K 55mg%, Cu 0,23mg%, S 15mg%, và Cl 8mg%. Các vitamin có vitamin A 80 IU%, thiamin 0,03 mg%, riboflavin 0,01 mg%, acid nicotinic 0,2 mg%, vitamin C 18mg%, cholin 7 mg%, acid folic 3 mg%, glucose và fructose là 2 đường chủ yếu có trong quả chín, không có succrose, acid malic 0,59%, acid oxalic ít, acid gallic và tanin.
Chất màu trong quả là do sự có mặt của cyanidin diglucosid, phần aglycon thu được sau khi thuỷ phân diglucosid có petunidin và malvidin, phần đường chủ yếu là glucose và galactose không có pentose và raffinose.
Phần sáp ngoài của vỏ quả tươi có sterol, và một lượng nhỏ tinh dầu mà thành phần chủ yếu là acid triterpen hydroxy. Ngoài ra còn có acid oleanolic. (The Wealth of India vol X - 1976. 102)
Sự phát triển của quả có thể chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn 1, quả xanh, nhỏ; giai đoạn II, 2 tuần sau khi quả đậu; giai đoạn III, 4 tuần sau khi quả đậu; giai đoạn IV, quả chín hoàn toàn.
Các chất màu tăng từ giai đoạn I đến giai đoạn II và giảm xuống khi quả chín ở giai đoạn III và IV. Các hợp chất phenolic tăng dần, còn các hydric phenol giảm đáng kể từ giai đoạn I đến IV; các antlhocyanin tăng từ giai đoạn I đến IV, còn các đường tổng số tăng trong khi đường khử giảm từ giai đoạn I đến IV.
Gần đây, Kelkar S.M. Kaklij G.s. đã phân lập và tinh chế từ quả được một peptidylglycan và một oligosaccharid với trọng lượng phân tử lần lượt là 6 và 1,2 KD có tác dụng chống đái tháo đường.
Lá vối rừng (thu hái vào mùa đông) có các thành phần như protein 9,1%; cao chiết bằng ether 4,3%, sợi 17%, tro 6%, Ca 6mg, tanin 6,6% - lá cất kéo bằng hơi nước thu được tinh dầu có mùi dễ chịu với các chỉ số sau: tỷ trọng 0,8943 - 0,8986; n20l,4943 - 1,4999; [α]D = -13,2 đến 20,9° (trong CHCl3), chỉ số acid 1,05 - 1,43; chỉ số ester 25,34 - 35,47 và chỉ số este sau khi acetyl hoá 66,89 - 93,1 một thể tích tan trong trong 5 thể tích cồn 90°.
Tinh dầu gồm các terpen: l. limonen và dipenten (20%), sesquiterpen loại cadalam 40%, sesquiterpen loai azulen 10%. (The Wealth of India vol X . 1976, 1002).
Khanra, Roop - Kumar đã xác định trong lá vối các thành phần chính của phần hydrocarbon là myrcen, β. pinen, α terpinen, terpinolen, β phelandren và bornylen, các dẫn chất oxy hoá chứa Me. cinnamat; cuminaldehyd; α terpineol, eugenol và boriieol.
Hạt vối rừng có protein 8,5%; cao chiết ester 1,18%, sợi 16,9%, tro 21,72%, CAO,41%, và P 0,17%.
Hạt còn có tanin 19%, acid ellagic, gallic và 1 - 2% glucosid jambolin, một lượng nhỏ tinh dầu màu vàng sáng (0,05%).
Trong phần không xà phòng hoá có myricyl alcol. Daulatabad, Chirag; Mahinood Jehan D. đã xác định thành phần dầu béo trong hạt vối rừng có acid lauric 2,8%; myristic 31,7%, palmitic 4,7%, stearic 6,5%, oleic 32,2%, linoleic 16,1%, malvanic 1,2%, sterculic 1,8% và veronic 3,0%
Hoa vối rừng có acid oleanolic, các triterpenoid khác như acetyl oleanolic (0,3%) eugenia - triterpenoid A (0,3%) và eugenia triterpenoid B (0,5%), acid ellagic (0,01%) các flavonoid như isoquercitrin, quercetin, kaempferol và myricetin. (The wealth of India voi x, 1976, 1002).
Rajasekaran M. Bapna J. S đã thử tác dụng chống thụ thai của acid oleanolic và cho đây là một chất có tác dụng cai đẻ hứa hẹn và không gây tác dụng phụ ngoài mong muốn.
Vỏ vối rừng chứa tanin 10 - 12%, acid gallic, nhựa, tinh bột và protein, vỏ cành chứa acid betulinic, β sitosterol, friedelin, một ester của epifriedelanol và myricetin.
Rễ vối rừng có các ílavonoid như myricetin-3-O- glucosid và myricetin-3-O-ribonosid
Ngoài ra, trong vối rừng, Wormald Mark. R còn xác định sự có mặt của một glucosid là cauarin-6-α-D-glucosid.

Tác dụng dược lý:

1. Tác dụng hạ đường huyết: 

Hạt của quả vối rừng có tác dụng làm giảm lượng nước tiểu và giảm hàm lượng đường trong nước tiểu, giảm khát do đái tháo đường.
a/ Thử trên thỏ có đường huyết bình thường:
Hạt quả vối rừng dưới dạng hỗn dịch trong nước, với liều 1, 2, 4 và 6g/kg, thấy liều 4g/kg có tác dụng tốt nhất, làm giảm đường huyết 42,6%. So sánh với tolbutamid, liều 250 mg/kg, sau 1 giờ, đường huyết bắt đầu giảm, mạnh nhất sau 3 giờ, giảm 52,1% và kéo dài đến 5 giờ; còn phenformin làm giảm 34,3% và cũng kéo dài được 5 giờ.
Nhân hạt có tác dụng hạ đường huyết mạnh hơn hạt và tác dụng tối đa đạt được lúc 4 - 5 giờ sau khi dùng. Tiêm trong màng bụng liều 1-2 mg/kg hoạt chất (không nêu rõ là hoạt chất gì) phân lập từ hạt quả vối rừng cho chuột cống trắng, thấy lúc dầu đường huyết tăng lên, sau đó giảm và mức giảm bằng 10 - 20% mức đường huyết khi chưa dùng thuốc.
b/ Thử trên chuột cống trắng bị tăng đường huyết do alloxan: Tolbutamid liều 250 mg/kg không thấy biểu hiện tác dụng, phenformin liều 20 mg/kg đã thấy có tác dụng, còn nhân hạt vối từng làm giảm đường huyết có ý nghĩa thống kê ở chuột cống trắng bị tăng đường huyết do alloxan. Điều đó chứng tỏ thuốc có một tác dụng ngoài tuỵ, vì alloxan gây tổn thương tế bào bêta đảo Langerhans ở tụỵ, là tế bào chịu trách nhiệm sản xuất ra insulin.
Một nghiên cứu khác dùng nhân hạt vối rừng trong 14 ngày cho chuột cống trắng bị tăng đường huyết do alloxan, thấy đường huyết, cholesterol huyết thanh và triglycerid huyết thanh đều giảm.
Thí nghiệm dùng dạng cao chiết cồn của hạt vối rừng cũng làm hạ đường huyết ở chuột cống trắng dùng alloxan. Qua nghiên cứu đã rút ra 2 nhận xét quan trọng: 1/ Mức giảm đường huyết tương đối ổn định, thậm chí sau khi ngừng dùng cao được 15 ngày. 2/ Đường huyết không bao giờ giảm đến mức bình thường như khi không dùng alloxan, mặc dầu đã dùng đến liều rất cao.
c/ Điều tra dân Brazil chữa đái tháo đường: Nhân dân vùng Porto Alegre ở Brazil thường dùng lá vối rừng và lá gioi (Syzygium jambos (L.) Alston) để chữa đái tháo đường. Họ dùng lá khô hãm hoặc sắc theo tỷ lệ trung bình là 2,5g/lít (từ 0,2g đến 8g/l), uống mỗi ngày 1 lít thay chè, dùng nhiều ngày. Trong mặt cuộc điều tra 72 ngưòi thì 37 người dùng lá vối rừng, 24 người dùng lá gioi, còn 11 người dùng cả 2 loại. Trong số 37 người dùng lá vối rừng, có 15 người dùng lá khô, 7 người dùng lá tươi, còn 15 người vừa dùng lá tươi vừa dùng lá khô. Lá được thu hái vào bất kỳ mùa nào. Một cuộc điều tra khác trên 100 người bị đái tháo đường, có 91 người đã biết dùng các loại chè để chữa, trong đó dùng nhiều nhất là lá gioi quả tròn, sau đó là lá vối rừng.

2. Tác dụng ức chế sinh tinh trùng: 

Acid oleanolic phân lập từ hoa của cây vối rừng cho chuột cống trắng đực uống trong 60 ngày, rồi ghép với chuột cái, thấy khả năng sinh sản của chuột giảm hẳn, nhưng không thấy thay đổi về trọng lượng cơ thể, cũng như trọng lượng của các cơ quan sinh sản. Tiến hành xét nghiệm tổ chức học thấy acid oleanolic làm ngừng sự sinh tinh trùng, nhưng các tế bào sinh tinh, tế bào Leydig và tế bào Sertoli vẫn bình thường, không bị ảnh hưởng.

3. Tác dụng trên virus: 

Vỏ thân cây vối rừng, cạo bỏ vỏ đen bên ngoài, gĩa nát, ép lấy dịch để thử. Thử in vivo trên hệ phôi gà, dịch ép không có tác dụng ức chế, nhưng thử in vitro dùng màng của túi màng đệm niệu nang (chorioallantoic membranes) phôi gà được 10-11 ngày tuổi, thì dịch ép có tác dụng ức chế sự phát triển của virus. Cao vỏ cây vối rừng cũng có tác dụng ức chế việc nhiễm vữus cho động vật thí nghiệm.

4. Thử độc tính: 

Dùng cá hồi Ctenopharyngodon idella 30 - 60 ngày tuổi, dài 2-3 cm, thả vào các dịch có nồng độ vỏ vối rừng khác nhau. Đã xác định được nồng độ làm chết 50% số cá, LC50 là 0,18%.

Tính vị, công năng:

Vỏ thân, vỏ cành to và lá vối rừng có vị cay, đắng, the, chát, tính ấm, vào kinh tỳ, vị, có tác dụng lợi tỳ vị, tiêu thực, khử ứ trệ, long đờm suyễn, táo thấp. Quả có vị chua, cổ tác dụng nhuận phế, chỉ khái, tinh suyễn, lợi tiêu hoá, lợi tiểu và thông trang tiện.
Vỏ thân, vỏ cành to vối rừng chữa đau bụng, đầy chướng, ăn không tiêu, táo bón, nôn mửa, lỵ, tiêu chảy. Vỏ vối rừng thường vẫn được dùng thay thế vị hậu phác (Magnolia officinalisRehd. et Wils.) và gọi là hậu phác nam. Ngày 8 - 12 g, sắc uống, hoặc dùng tươi ép nước uống.
Lá vối rừng cũng có thể nấu nước uống như lá vối, giúp tiêu hoá tốt. Dịch ép lá tươi có tác dụng làm săn se để chữa lỵ. Còn dùng chữa đái tháo đường. Ngày 4 - 10g sắc uống.
Ở Campuchia, người ta cho quả vối rừng ngon hơn mận, gioi và được bán ở chợ.
Hạt quả được dùng chữa đái tháo đường. Ngày 4 - 8 g, phơi khô tán bột hoặc sắc uống.

Bài thuốc có vối rừng:

1. Chữa đau bụng, đầy chướng, ăn không tiêu, táo bón:

- Vỏ vối rừng 8 - 12 g sắc uống, thường phối hợp với các vị thuốc khác như bán hạ chế, chỉ thực hoặc chỉ xác, ô dược hoặc hương phụ, trần bì, cát sâm, lượng mỗi thứ 4 - 8 g, sắc uống.
- Vỏ vối rừng 12 g, bán hạ chế 8g, cát sâm sao 8g, cam thảo 4g, sắc uống.
- Vỏ vối rừng, hoàng cầm, mỗi vị 12g, sài hồ 16g, chỉ thực 8g, bán hạ chế 6g, đại hoàng sống 0,4g. sắc uống.

2. Chữa tiêu chảy, nôn mửa:

- Vỏ vối rừng, hoắc hương, vỏ rụt, sa nhân, củ riềng già, mỗi vị 4 - 8g, sắc đặc uống.
- Vỏ vối rừng 12g, nhục đậu khấu, bán hạ chế, hoắc hương, trần bì, mỗi vị 8 g; kha tử 4g, sắc uống.

3. Chữa tiêu chảy, kiết lỵ:

Vỏ vối rừng tươi, cạo bỏ vỏ đen, dùng riêng, hoặc phối hợp với hạt quả vối rừng, lượng bằng nhau, giã nát, ép lấy nước. Người lớn mỗi lần 2 thìa cà phê, trẻ em 1/2-1 thìa, ngày 4-5 lần, cách nhau 3-4 giờ. Trẻ nhỏ dùng nửa thìa trộn với sữa cho dễ uống.

4. Chữa sốt rét:

Vỏ vối rừng, lá thường sơn, thảo quả, lá na, dây thần thông, mỗi vị 4 - 8g, sắc uống.

5. Chữa đái tháo đường:

Hạt quả vối rừng, phơi khô, tán thành bột mịn, ngày 4 - 8 g, dùng nhiều ngày. Có thể dùng cả quả có hạt, phơi khô, tán dập, nấu cao. Một phòng thí nghiệm ở Pháp đã sản xuất một loại thuốc làm hạ đường huyết chế từ cao nước của hạt quả vối rừng và giới thiệu là có tác dụng hạ đường huyết mạnh. Có thể dùng lá, hãm hoặc sắc uống thay chè, ngày 4 - 8g.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

VỐI-Cleistocalyx operculatus-công dụng cách dùng

VỐI



Tên khoa học: 

Cleistocalyx operculatus (Roxb.) Merr. & L.M.Perry; Họ Sim (Myrtaceae).

Tên đồng nghĩa:

Eugenia operculata Roxb.

Tên khác: 

Vối nhà.

Tên nước ngoài: 

Lid eugenia (Anh), jambosier à thé (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây to, cao 12 - 15 m, vỏ thân nứt nẻ, màu nâu đen. Cành lúc đầu dẹt sau hình trụ. Lá dày, mọc đối, hình trái xoan hoặc hình bầu dục, dài 9 - 18 cm, rộng 4 - 8 cm, gốc tròn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn, gần như cùng màu, soi lên có nhiều tuyến mờ, ở lá già, mặt dưới có những chấm đen; cuống lá ngắn.
Cụm hoa mọc ở kẽ những lá đã rụng thành chuỳ rộng; lá bắc dễ rụag; hoa màu lục nhạt; đài dính vào bầu; tràng có 4 cánh hình tròn hoặc bầu dục, có nhiều tuyến mờ; nhị rất nhiều, xếp thành nhiều hàng; bầu nằm sâu trong ống đài.
Quả hình cầu hoặc hình bầu dục, mặt ngoài nhăn nheo, khi chín màu tím.
Mùa hoa quả: tháng 4-5.

Phân bố, sinh thái:

Chi Cleistocalyx Blume gồm một số loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á.  Việt Nam có 3 loài. Vối là cây đặc hữu của vùng Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, vối mọc tự nhiên dọc theo các bờ suối hay bò các ao hồ ở vùng núi thấp và trung du, thuộc các tỉnh Cao Bằng (Hà Quảng, Thông Nông, Thạch An ...); Lạng Sơn (Đồng Mỏ, Hữu Lũng); Bắc Giang (Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế...); Vĩnh Phúc (Lập Thạch, Tam Dương); Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Tây, Hoà Bình... Cây vối còn được trồng rải rác trong nhân dân các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Cây được trồng ở bờ ao vừa để chống sạt lỏ đất, vừa tận dụng khoảng không gian.
Vối thuộc loại cây gỗ ưa sáng, ưa ẩm, sinh trưởng và phát triển nhanh; trong vòng 3 năm đầu, chiều cao thân có thể đến 5 m. Cây phân cành nhiều; chồi và lá non ra nhiều trong mùa xuân hè. Những cây mọc ỏ chỗ được chiếu sáng đầy đủ ra hoa quả rất nhiều, tái sinh tự nhiên từ hạt khoẻ. Ngoài ra, để cho cây có nhiều cành lá người ta thường chặt bớt cành hàng năm, nhằm kích thích cho sự sinh chồi mới. Chồi mới mọc ra theo kiểu lưỡng phân; những chồi phát triển thành cành có trên một năm tuổi mới ra hoa quả.

Cách trồng:

Cây vối được trồng rải rác trong nhân dân. Mỗi gia đình thường chỉ trồng 1 -2 cây lấy lá và nụ để nấu nước uống.
Vối được trồng bằng hạt. Người ta thường ươm hạt thành cây con hoặc đánh các cây vối con mọc xung quanh gốc cây mẹ đem trồng. Thời vụ trồng vào mùa xuân hay mùa thu đều được.
Vối không kén đất nhưng ưa ẩm nên thường được trồng ở bờ ao, góc vườn, chân đồi. Khi trồng, đào hố sâu rộng tuỳ theo kích thước của cây giống, với khoảng cách 4 - 6m. Cần đảm bảo đủ ẩm cho đến khi cây bén rễ.
Cây không cần chăm sóc, ít sâu bệnh.

Bộ phận dùng:

Vỏ cây thu hái vào mùa hạ, thu, phơi khô. Còn dùng lá tươi và nụ hoa phơi khô (Gemma Florifera, Cortex et Folium Cleistocalycis Operculati).
Theo Nguyễn Xuân Dũng và cs., 1994, tinh dầu lá vối có 30 thành phần, trong đó các thành phần chính là (Z) -β -ocimen 32,1%, myrcen 24,6%, β-caryophylen 14,5% và (E)-β-ocimen 9,4% (nhận dạng bằng sắc ký khí và sắc ký khí liên hợp với khối phổ).
Theo Trung dược từ hải I, 1993, tinh dầu lá có 27 thành phần gồm humulen; 3, 6, 8, 8 - tetramethyl - 3 - hydro - 7 - methylenazulen, nerolidol.
Vỏ cây chứa một chất triterpen nhóm olean nhận dạng là acid arjunolic. Chất này có tính kháng 5 chủng nấm ngoài da với hoạt tính tương tự griseofulvin.
Nụ vối có 9 thành phần đã được phân lập trong đó 8 chất đã được nhận dạng là 2’, 4’- dihydroxy - 6’- methoxy - 3’, 5’ - dimethylchalcon, 5,7- dihydroxy - 6, 8 - dimethylflavon, 7 - hydroxy - 5 - methoxy - 6, 8 - dimethylflavanon, ethyl galat, acid galic, acid ursolic, β-sitosterol và acid cinamic.
Nụ vối còn có tinh dầu gồm 35 thành phần, trong đó có myrcen, geraniol, cis-caryophylen, 8 - muurolen, alo - aromadendren, δ-cadinen, farnesol (Trung dược từ hải I, 1993).

Tác dụng dược lý:

Năm 1968, Phòng Y học thực nghiệm - Viện Y học cổ truyền đã tiến hành nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của lá và nụ vối, và kết luận như sau: lá vối ở tất cả các giai đoạn phát triển và nụ vối đều có tác dụng đối với một số chủng vi khuẩn gram + và gram tác dụng mạnh nhất đối với Streptococcus hemolyticus, liếp đến Bacillus diphtheriace, StaphylococcusPneumococcus. Hoạt chất kháng khuẩn tan trong nước và các dung môi hữu cơ, bền vững với nhiệt độ và các môi trường có pH từ 2 - 9.
Theo tài liệu Trung Quốc, lá vối tươi vò nát vắt lấy nước, pha loãng, bằng đường uống hoặc cho thẳng vào dạ dày, có tác dụng giải độc lá ngón (Tân y học 1978 - 9/6 - 286).

Tính vị, công năng:

Lá và nụ vối có vị đắng, chát, tính hàn, có tác dụng sát trùng, giải biểu, tán nhiệt, khử thấp, hoá trệ. Vỏ thân cây vối có vị cay, tính ôn, có tác dụng sát trùng, chỉ dưỡng (làm hết ngứa).

Công dụng:

Từ xưa, nụ và lá vối đã được nhân dân Việt Nam nấu nước uống vừa thơm vừa có tác dụng tiêu cơm, nhuận tràng. Liều dùng hàng ngày: 10 - 20g. Lá vối tươi hay khô sắc đặc là thuốc sát trùng dùng rửa mụn nhọt, lở ghẻ.
Ở Trung Quốc, nụ vối được dùng chữa sốt, đau đầu, ăn không tiêu, lỵ trực trùng, viêm dạ dày - ruột cấp. Với liều hàng ngày là 15 - 30g, sắc nước uống. Vỏ thân, sắc nước, dùng rửa ngoài chữa viêm loét kẽ chân, ghẻ lở, viêm nang lông.

Bài thuốc có vối:

1. Chữa tiêu chảy:
1. Lá vối 3g, vỏ rộp cây ổi 8g, núm quả chuối tiêu lOg, thái nhỏ phơi khô, sắc với 400 ml nước còn lOOml, chia làm 2 lần uống trong ngày.
2. Vỏ vối 100g, vỏ sung 100g, lá ổi 100g, lá phèn đen 100g, vỏ cây đại 50g, hạt vải 50g, quế 30g. Tất cả phơi khô, tán thành bột mịn, luyện với hồ làm thành viên to bằng hạt đậu xanh. Người lớn ngày uống 12g, chia làm 2 lần. Trẻ em tùy theo tuổi giảm liều.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

VỌNG CÁCH-Premna corymbosa-tác dụng bảo vệ gan do rượu bia

VỌNG CÁCH



Tên khoa học: 

Premna corymbosa Rottler & Willd.; Họ: Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Premna scandens Bojer; Premna alstonii Moldenke; Gumira corymbosa (Rottler & Willd.) Kuntze           

Tên khác: 

Cây cách, cách núi.

Tên nước ngoài: 

Headache tree (Anh); arbre à la migraine, bois de bouc (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây nhỡ, cao 5 - 7 m. Cành non hình vuông, đôi khi có gai và lông mịn; cành già nhẵn, màu nâu đỏ, có rãnh và lỗ bì. Lá mọc đối, hình trái xoan, dài 14-16 cm, rộng 10-12 cm, gốc tròn hay hơi hình tim, đầu tù hay có mũi nhọn ngắn, mặt trên nhẵn bóng, gân hằn rõ, mặt dưới nhạt có lông mịn trên các gân, mép nguyên hoặc khía răng ở phía đầu lá. Lá vò ra có mùi thơm như chanh.
Cụm hoa mọc ở đầu cành thành ngù dài 10 - 18 cm, có lông mịn; lá bắc nhỏ dạng lá; hoa màu trắng hay hơi xanh lục; đài có lông và tuyến, chia 2 môi, môi trên nguyên hoặc xẻ 2 thuỳ, môi dưới nguyên hoặc có 2 - 3 răng rất nhỏ; tràng có lông ở mặt ngoài, ống hình trụ, chia 2 môi, môi trên có 2 thuỳ gần bằng nhau, môi dưới có 3 thuỳ tròn; nhị 4, hơi thò ra ngoài, chỉ nhị đính ở họng tràng; bầu nhẵn.
Quả hạch, hình cầu hoặc hình trứng, màu đen.
Mùa hoa quả; tháng 5-8.

Phân bố, sinh thái:

Chi PremnaL. có khoảng 200 loài và dưới loài (var.) trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Phi, châu Á và châu Đại Dương, ở Việt Nam có 15 loài, trong đó 4 - 5 loài được dùng làm thuốc. Cây vọng cách phân bố từ Ấn Độ đến Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam. Ở Việt Nam, vọng cách là loài cây tương đối quen thuộc đối với người dân ở vùng đồng bằng và trung du. Cây phân bố rải rác từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương đến Nam Bộ và đảo Phú Quốc.
Vọng cách là cây bụi ưa sáng, ưa ẩm nhưng cũng có thể hơi chịu hạn, thường mọc lẫn với nhiều loại cây bụi khác ngay ở quanh làng, dọc theo các bờ kênh mương, đồi cây bụi và bờ nương rẫy. Cây thường xanh do mọc chồi và ra lá non gần như quanh năm. Tuy nhiên, mùa sinh trưởng mạnh lại vào vụ xuân - hè. Vọng cách ra hoa kết quả-nhiều, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Cây còn có khả năng tái sinh chồi khoẻ sau khi bị chặt đốn. ở một số địa phương, nhân dân còn trồng vọng cách ở vườn nhà, để lấy lá non làm rau gia vị.

Bộ phận dùng:

Lá, thu hái quanh năm phơi khô. Còn dùng rễ (Folium, Radix et Ramulus Premnae Corymbosae).
Thành phần hoá học:
Lá vọng cách có tinh dầu.
Vỏ cây chứa 2 alkaloid là premnin và garianin (Võ Văn Chi, 1997).
Theo Otsuka Hideaki và cs., 1993, lá cây Premna corymbosa var. obtusifolia có một verbascosid iridoid glucosid là premcoryosid và 3 monoacyl 6-O-α-L. rhamnopyranoacylcatalpol

Tác dụng dược lý:

Thực nghiệm trên ếch cho thấy các thành phần hoá học premnin và ganiarin gây co mạch máu và làm tăng huyết áp, trong khi ganikarin không có tác dụng giống thần kinh giao cảm này. Premnin cũng gây giãn đồng tử. Một hợp chất phenol được phân lập từ vỏ rễ tươi, có tác dụng ức chế các chủng vi khuẩn gram dương: tụ cầuvàng, liên cầu tan máu và Bacillus subtilis. Cao nước của cây có tác dụng mạnh trên tử cung và ruột động vật thí nghiệm gây tăng rõ rệt hoạt động của các cơ quan này. Rễ vọng cách có tác dụng chống đái tháo đường trên động vật gây đái tháo đường thực nghiệm.
Một isoxazol alkaloid, premnazol, được phân lập từ lá vọng cách, có tác dụng chống viêm trên chuột cống trắng, nó làm giảm sự tạo u hạt với hoạt tính có thể so sánh được với phenylbutazon, và làm giảm trọng lượng tuyến thượng thận và lượng chứa acid ascorbic. Trong cùng thí nghiệm, hoạt tính enzym của acid phosphatase, glutamat pyruvat transaminase (GPT), và glutamat oxaloacetat transaminase (GOT) giảm trong huyết thanh và gan, trong khi lượng protein giảm trong huyết thanh. Cao nước vỏ thân có tác dụng ức chế cơ tim và gây hạ đường máu trên động vật thí nghiệm
Abana là một chế phẩm thuốc trợ tim của Ấn Độ bào chế từ nhiều được liệu trong đó có vọng cách, có tác dụng bảo vệ rõ rệt chống tăng huyết áp và thiếu máu cục bộ, đã được thử nghiệm trên chuột cống trắng và thể hiện có hoạt tính hạ lipid máu có ý nghĩa. Abana làm giảm β-lipoprotein và apoprotein trong huyết thanh; các lipoprotein tỷ trọng thấp giảm nhiều hơn lipoprotein tỷ trọng rất thấp. Tuy vậy, lipoprotein, tỷ trọng cao trong huyết thanh tăng nhẹ. Sự giảm các thành phần lipiđ trong huyết thanh và gan kèm theo bởi sự giảm các acid béo tự do trong huyết thanh và giảm hoạt tính của enzym liêu mỡ trong gan. Abana gây ức chế rõ rệt sự sinh tổng hợp cholesterol trong gan và tăng thải từ acid mật trong phân. Kết quả nghiên cứu giải thích cơ chế tác dụng bảo vệ tim và hạ iipid máu của thuốc Abana.
Lá vọng cách có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm và giảm đau trên mô hình thực nghiệm với chuột. Cao lỏng lá Vọng cách làm giảm men gan ALT, biểu hiện tổn thương gan giảm so với lô chứng bệnh lý, mật độ gan mềm hơn, gan bị bạc màu ít hơn, các điểm tổn thương cũng ít hơn. Trong mô hình gây viêm, cao lỏng lá Vọng cách giảm phù, giảm lượng dịch rỉ viêm, giảm hàm lượng protein và bạch cầu trong dịch rỉ viêm so với lô chứng. Kết quả của nghiên cứu này cũng đồng nhất với tác dụng bảo vệ gan, đặc biệt trước các tổn hại gây ra bởi bia rượu mà vọng cách đang được sử dụng trong dân gian.

Tính vị, công năng:

Vọng cách có vị hăng, đắng, có mùi thơm, tính mát, có tác dụng lợi tiêu hoá, trị sốt.

Công dụng:

Vọng cách được dùng làm thuốc trong phạm vi kinh nghiệm dân gian. Lá vọng cách chữa lỵ, tiểu tiện khó, tiêu hoá kém. Để chữa lỵ, dùng lá vọng cách tươi (30 - 40g), rửa sạch, vò nát, hoà với ít nước đun sôi để nguội, vắt lấy nước cốt, thêm đường uống. Trẻ em dùng nửa liều. Có thể dùng lá phơi khô, hay sao vàng sắc uống. Lá vọng cách còn được dùng chữa phạm phòng, phát sốt, viêm gan, co thắt sau khi giao hợp, với liều 30 - 40 g sắc uống.
Rễ vọng cách chữa đau bụng, ăn không tiêu, sốt với liều 20g sắc uống.
Trong y học dân gian Đông Nam Á, vọng cách được dùng làm thuốc lợi tiểu trị phù, thuốc gây trung tiện, bổ dạ dày, trị tiêu chảy, viêm phế quản, thấp khớp, nhức đầu và thuốc bổ cho phụ nữ sau khi đẻ. Lá và rễ vọng cách được dùng ở các nước Đông Dương làm thuốc lợi tiểu, bổ dạ dày và hạ sốt. Ở Indonesia, nước sắc lá là thuốc lợi sữa và chữa thấp khớp, ở Malaysia, nước sắc rễ và lá có tác dụng hạ sốt. Ở Ân Độ, rễ vọng cách được dùng để nhuận tràng, lợi dạ dày, trợ tim, bổ và có trong thành phần của chế phẩm thuốc cổ truyền Ấn Độ Dasamula trị sốt dai dẳng. Lá có tác dụng gây trung tiện, lợi sữa, và nấu cháo ăn để bổ dạ dày. Nước sắc lá dùng trị cơn đau bụng, đầy hơi, nước sắc cây non trị thấp khớp, đau dây thần kinh.
Ở Srilanka, tinh dầu từ rễ vọng cách trị đau bụng, ở Papua Niu Ghinê, cao lá trị ho, nhức đầu và sốt. Ở Guam, nước hãm vỏ cây trị đau dây thần kinh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

VÒI VOI-Heliotropium indicum-công dụng cách dùng

VÒI VOI



Tên khoa học: 

Heliotropium indicum L.; Họ: Vòi voi (Borraginaceae).

Tên khác: 

Dền voi, thiên giới thảo, đại vĩ đao, co nam (Thái).

Tên nước ngoài: 

Indian heliotrope (Anh); héliotrophe des Indes, crête de coq, herbe de Saint Fiacre, herbe papillon (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, cao 40 - 60cm. Thân hình trụ, màu lụe. Lá mọc so le, hình bầu dục hoặc hình trứng, gốc lá men theo cuống, đầu nhọn, mép uốn lượn, mặt trên màu lục sẫm, có gân hằn sâu thành mạng rõ, mặt dưới rất nhạt hơi màu xám.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân hoặc kẽ lá thành xim bọ cạp, dài 8 - 10cm; hoa màu tím nhạt hoặc trắng, mẫu 5; đài hình ống ngắn; tràng hình chuông ở phía trên, hình ống ở phía dưới; nhị 5; bầu 4 ô, mỗi ô 1 noãn.
Quả gồm 4 hạch nhỏ.
Toàn cây có lông nháp và mùi hôi.
Mùa hoa quả: tháng 5 - 7 .

Phân bố, sinh thái:

HeliotropiumL. là chi có số loài lớn, với khoảng 250 loài. Các loài phân bố rộng rãi từ vùng ôn đới ấm đến vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới ở khắp các châu lục, song tập trung nhiều ở châu Mỹ. Ở Malaysia có 11 loài, trong đó có 7 loài được coi là cây bản địa; Việt Nam chỉ có 3 loài.
Vòi voi có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, nhưng ngày nay thấy cây phân bố ở các vùng nhiệt đới khác. Cây mọc tự nhiên phổ biến ở các nước châu Á như Indonesia, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ, Campuchia, Lào, phía nam Trung Quốc, ở Việt Nam, cây mọc ở hầu khắp các tỉnh, trừ vùng núi cao trên 1500m. Vòi voi cũng có ở tất cả các đảo lớn như Cát Bà, Hòn Mê, Cồn cỏ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Côn Đảo.
Vòi voi là cây ưa sáng, thưòng mọc trên các bãi đất ẩm ở ven đưòng đi, quanh làng, nương rẫy, vườn và bãi bồi sông. Cây con mọc từ hạt vào khoảng tháng 4-5; sinh trưởng nhanh trong mùa hè, ra hoa quả nhiều và tàn lụi vào giữa mùa thu. Vòi voi có thể sống được trên nhiều loại đất, chịu nắng nóng trong mùa hè; gieo giống tự nhiên từ hạt. Do đó cây thường mọc tập trung thành đám ở nơi trước đây có cây mẹ.
Vòi voi thường bị coi là loài cỏ dại ảnh hưởng đến cây trồng. Tuy nhiên khi cây mọc dày, có tác dụng chống xói mòn vào mùa mưa; toàn bộ phẩn trên mặt đất được dùng làm phân xanh.

Bộ phận dùng:

Toàn cây (Herba Heliotropii Indici).

Thành phần hóa học:

Toàn cây vòi voi có indicin, acetylindicin, indicinin, echinatin, supinin, heliotrin, lasiocarpin, lasiocarpin N - oxyd, heleurin, indicin N - oxyd, cholinasterol. Ngoài ra, còn có β - sitosterol, lupeol, β - amyrin và β - sitosterol glucosid.
Lá và cụm hoa có spermin, spermidin, putrescin, homospermidin, retronecin, supinidin, trachelanthamidin. (Trung dược từ hải I, 1993, Từ điển cây thuốc, 1997).

Tác dụng dược lý:

Các alkaloid pyrrolizidin trong cây vòi voi có tác dụng độc trên động vật, gia súc và lẻ tẻ trên người, nhiều alkaloid này có tác dụng độc hại gan rõ rệt. Các oxydase ở gan động vật có vú biến đổi những alkaloid này thành những cấu trúc pyrrol là chất alkyl hóa mạnh tác động với các chất ưa nhân thích hợp của tế bào, ví dụ các acid nucleic và protein. Tuy tác dụng độc của các chất chuyển hóa này thường được nhận xét thấy chủ yếu ở gan, nhưng phổi và/hoặc những mô khác cũng có thể bị ảnh hưởng. Thêm vào tác dụng độc hại tế bào, các alcaloid pyrrolizidin còn có tác dụng gây đột biến và gây ung thư.
Alkaloid indicin - N - oxyd trong vòi voi có hoạt tính ức chế carcinom W-256 ở chuột cống trắng và bệnh bạch cầu L - 121 ở chuột nhắt trắng, và được tiêm truyền một đợt ngắn 15 phút cho bệnh nhân có khối u rắn đã được áp dụng hóa liệu pháp trước đó. Các tác dụng không mong muốn hạn chế việc sử dụng là giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu, và độc tính tích luỹ khi dùng những liều nhắc lại. Nói chung, tác dụng độc hại gan ngăn cản việc tiếp tục nghiên cứu. Heliotrin có tính chất gây ung thư, ngược lại indicin N-oxyd lại kháng carcinom Ehrlich và sarcom 180 trên chuột nhắt bằng đường uống hay tiêm vào phúc mạc. Trong những mô hình gây vết thương bằng đường rạch hoặc cắt bỏ da ở chuột cống trắng, cao 10% (trọng lượng/thể tích) của vòi voi trong nước muối được bôi tại chỗ trước khi gây vết thương, kết quả thử nghiệm về sức căng dãn cho thấy vòi voi có tác dụng tốt trong giai đoạn tái tạo làm lành vết thương. Vòi voi cũng có tác dụng chống viêm.

Tính vị, công năng:

Cây vòi voi có vị đắng nhạt, hơi cay, mùi hăng, tính mát, có tác dụng thông huyết, trừ phong thấp, thanh nhiệt, tiêu viêm.

Công dụng:

Cây vòi voi được dùng theo kinh nghiệm dân gian để chữa phong thấp, sưng khớp, lưng gối nhức mỏi, viêm họng, nhọt viêm tấy, mẩn ngứa. Ngày dùng 15 - 30g dưới dạng thuốc sắc. Vòi voi còn được dùng làm thuốc thông kinh, khi dùng liều cao có thể gây sẩy thai. Dùng ngoài, cành lá hoa tươi, giã nhỏ, chưng với giấm đắp, chữa mụn nhọt, chín mé, viêm hạch, vấp ngã tụ máu, bong gân. Vì cây vòi voi có tác dụng độc hại đối với gan, nên hạn chế việc dùng uống để chữa bệnh.
Ở một số nước Đông Nam Á, lá cây vòi voi được dùng trị hột cơm, mụn cóc và làm thuốc đắp để trị các khối u. Ở Indonesia, nước sắc lá trị bệnh tưa, bệnh do nấm Candida. Trong y học dân gian Lào và Campuchia, toàn cây vòi voi được dùng dưói dạng thuốc sắc uống hoặc thuốc đắp trị viêm, sưng lấy, bong gân, thâm tím, đụng giập, viêm họng, áp xe và thấp khớp, thuốc đắp lá trị herpes và thấp khớp, ở Philippin, rễ được dùng làm thuốc điều kinh, nước hãm lá để rửa vết thương và mụn nhọt, lở loét, ở Thái Lan, nước sắc phần trên mặt đất là thuốc hạ sốt, chống viêm và rễ tri bệnh về mắt. Ở Tây Phi, thuốc đắp lá trị eczema và chốc lở.
Ở Ấn Độ, cây vòi voi được dùng để làm mềm da, lợi tiểu, trị vết thương và dùng đắp tại chỗ trị loét, chốc lở, vết thương, nhọt ở lợi, bệnh da, thấp khóp và sâu bọ cắn. Nước sắc chồi non trị ho và ghẻ; nước sắc lá trị sốt và mày đay, nước sắc rễ tri ho và sốt. Hạt nhai và nuốt làm dễ tiêu, ở Nam và Trung Mỹ, nước sắc lá còn trị lỵ và trị, dịch ép lá uống chữa chảy máu bên trong, nước hãm lá dùng sức miệng tậ viêm họng. Ở Bò Biển Ngà, nhân dân bôi dịch ép vòi voi để chữa vết thương, đắp lá rồi băng lại để tậ một số bệnh da, đặc biệt tn eczema và chốc lở trẻ em.

Bài thuốc có vòi voi:

1. Chữa sai khớp và bong gân, sau khi đã chỉnh hình các khớp:
Vòi voi (lá và hoa) 30g, tỏi 1 củ, muối ăn 10g. Tất cả giã nát đắp vào chỗ sưng tấy, băng chặt.
2. Chữa vết thương phần mềm:
Vòi voi 50g, sài đất 200g, tô mộc 20g. sắc nước rửa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

VIỄN CHÍ-Polygala japonica-Công dụng cách dùng

VIỄN CHÍ



Tên khoa học:Polygala japonica Houtt.; Họ: Viễn chí (Polygalaceae).
Tên nước ngoài: Common indian milkwort (Anh); polygala, herbe à lait (Pháp).
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Cây thảo, sống lâu năm, cao 10-20 cm, phân cành từ gốc. Cành mọc toả rộng, hơi có lông mịn. Lá mọc so le, rất đa dạng: lá gốc hình ellip, lá phía trên hình mác, dài 20 mm, rộng 3-5 mm, mép thường cuộn xuống dưới, gân chạy men theo mép lá, gân phụ rõ; cuống dài 0,5 mm.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành chùm mảnh, có 1 - 3 hoa màu trắng, đầu nhuộm tím; lá bắc rất nhỏ, sớm rụng; đài 3 răng ngoài rất nhỏ, 2 răng trong rộng hơn, có lông mi; tràng 5 cánh, 2 cánh ròi, 3 cánh bên hàn liền thành cánh cờ, mào lông màu lam hoặc tím; nhị nhẵn; bầu thuôn nhẵn.
Quả nang, có cánh bên; hạt hình trứng, có lông, áo hạt chia 3 thuỳ.
Mùa hoa quả: tháng 11-12.
Phân bố, sinh thái:
Chi PolygalaL. có khoảng 500 loài, phân bố rải rác khắp các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới ấm trừ New Zealand. Tuy nhiên, vùng Trung - Nam Mỹ, Bắc Mỹ và Nam Phi là những trung tâm đa dạng của chi này trên thế giới, ở Việt Nam, hiện có khoảng 20 loài, trong đó 11 loài được dùng làm thuốc. Loài viễn chí phân bố chủ yếu ở Trung Quốc (có cả ở Đài Loan) và Nhật Bản. Ở Việt Nam cây viễn chí trên mới chỉ thấy ở các vùng núi thấp, thuộc các tỉnh từ Thái Nguyên đến Thanh Hoá.
Viễn chí thuộc loại cây thảo ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm, lẫn trong đám cỏ thấp ở ven rừng, nương rẫy hay ruộng cao ở vùng núi. Vốn là loại cây ở vùng cận nhiệt đới, ưa khí hậu ẩm mát, nên cây mọc ở các tỉnh phía bắc cũng chỉ thấy xuất hiện vào mùa xuân - hè. Cuối mùa hè, sau khi đã có quả già, cây bị tàn lụi. Viễn chí tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt và có thể gieo trồng được.
Bộ phận dùng:
Rễ, đào rễ, loại bỏ tạp chất, rửa nhanh, ủ cho mềm, cắt thành đoạn, phơi hay sấy khô.
Thành phần hoá học:
Theo Trung dược đại từ điển I, 1997, rễ viễn chí chứa saponin triterpen, nhựa, dầu béo và polygalitol.
Tác dụng dược lý:
1. Tác dụng giảm ho: Trên mô hình thực nghiệm gây ho cho chuột nhắt trắng bằng cách phun xông ammoniac, liều 0,75g/kg viễn chí cho uống dưới dạng cao, có tác dụng giảm ho rõ rệt.
2. Tác dụng lợi đờm: Thí nghiệm trên thỏ, viễn chí có tác dụng làm tăng dịch tiết khí phế quản.
3. Tác dụng giảm đau: Trên mô hình gây đau biểu hiện bằng các phản ứng vặn xoắn mình khi tiêm trong màng bụng dung dịch acid acetic, viễn chí liều uống 0,8g/kg có tác dụng giảm đau rõ rệt ở chuột nhắt trắng.
4. Tác dụng trên thời gian ngủ: Viễn chí có tác dụng hiệp đồng, làm kéo dài thời gian ngủ do thuốc ngủ barbituric ở chuột nhắt trắng.
5. Tác dụng trên thần kinh trung ương: Viễn chí có tác dụng ức chế có mức độ hệ thần kinh trung ương, nhưng không thấy có tác dụng đối kháng với liều gây co ẹiật do cafein gây nên ở chuột nhắt trắng.
6. Tác dụng trên tử cung: Thử tác dụng của cao lỏng viễn chí trên tử cung thỏ, mèo và chuột cống trắng in vitro và in situ, thấy thuốc có tác dụng kích thích co bóp cơ tử cung ở cả con vật có thai và không có thai.
7. Tác dụng kháng khuẩn: Cao mềm viễn chí có tác dụng kháng khuẩn, ức chế sự phát triển của các vi khuẩn Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis, Streptococcus hemolyticus, Diplococcus pneumoniae.
8. Tác dụng tán huyết: Dịch chiết 5% của rê và bộ phận trên mặt đất của cây ra hoa có tác dụng tán huyết.
Tính vị, công năng:
Viễn chí có vị hắc, đắng, the, tính hơi ấm, vào 2 kinh tâm và thận, có lác dụng an thần, ích trí, khu đàm, chỉ khái, ích tinh, hoạt huyết, tán ứ, tiêu thũng, giải độc.
Công dụng:
Viễn chí được dùng chữa ho, nhiều đờm, viêm phế quản, hay quên, giảm trí nhớ, liệt dương, yếu sức, mộng tinh, bổ cho nam giới và người già, thuốc làm sáng mắt, thính tai do tác dụng trên thận. Còn chữa đau tức ngực, lao, ngủ kém, suy nhược thần kinh, ác mộng. Ngày 6 - 12g dạng thuốc sắc hoặc 2 - 5g cao lỏng, bột thuốc hoặc cồn thuốc.
Dùng ngoài, viễn chí phơi khô, tán bột, tẩm nước, đắp chữa đòn ngã tổn thương, mụn nhọt, lở loét, sưng và đau vú, rắn độc cắn.
Ghi chú:Theo sách “Tân biên Trung y”:
- Rễ viễn chí phải bỏ lõi trước khi dùng
- Không dùng liều cao.
- Ngưòi có thai, người bị bệnh dạ dày, người thực hoả, không được dùng.
Bài thuốc có viễn chí:
1. Chữa ho có đờm:
Viễn chí 8g, cát cánh 6g, cam thảo 6g, sắc chia làm 3 lần uống trong ngày. Trường hợp người già ho đờm lâu năm, đờm kết gây tức ngực, khó thở, dùng viễn chí 8g, mạch môn 12g, sắc uống dần từng ngụm, ngày một thang.
2. Chữa thần kinh suy nhược, hay quên, đần độn, kinh sợ, hoảng hốt, kém ăn, ít ngủ:
Viễn chí, đảng sâm, bạch truật, liên nhục, long nhãn, táo nhân (sao đen), mạch môn, mỗi vị 10g, sắc uống. Hoặc viễn chí, tâm sen, hạt muồng (sao), mạch môn, nhân hạt táo (sao đen), huyền sâm, dành dành, mỗi vị 12g, sắc uống.
3. Chữa trẻ sốt cao sinh co giật:
Viễn chí, sinh địa, câu đằng, thiên trúc hoàng (bột phấn đọng ở trong đốt cây nứa), mỗi vị 8 - 10g, sắc uống.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật