Hiển thị các bài đăng có nhãn CÂY THUỐC ĐỘNG VẬT LÀM THUỐC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÂY THUỐC ĐỘNG VẬT LÀM THUỐC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

SAO ĐEN-Hopea odorata-Công dụng cách dùng

SAO ĐEN



Tên khoa học: 

Hopea odorata Roxb.; Họ Dầu (Dipterocarpaceae).

Tên khác: 

Cây sao, mạy khèn (Tày).

Tên nước ngoài: 

Thingan (Anh).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây to, cao 20 - 30 m, có khi hơn. Thân thẳng đứng, vỏ sần sùi, màu đen, cành non có lông. Lá mọc so le, hình bầu dục - thuôn hoặc hình trứng, dài 6 - 13 cm, rộng 3-5 cm, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm đen; cuống lá dài 1cm.
Cụm hoa mọc thành chùm, ngắn hơn hoặc bằng lá, có lông tơ màu tro, phân nhiều nhánh, mỗi nhánh có 4 - 6 hoa xếp lệch về một bên; đài có lông ở những lá ngoài, nhẩn ở những lá trong; cánh hoa cũng có lông, hình lưỡi liềm, mép khía răng; nhị 15 - 19, chỉ nhị dẹt; bầu có lông.
Quả bao bọc trong lá đài tồn tại, trong đó hai lá phát triển thành cánh thuôn dài 5 - 6 cm, có nhiều gân song song không đều.
Mùa hoa quả : tháng 5-6.

Phân bố, sinh thái:

Hopea Roxb. là một chi lớn có khoảng 110 loài; phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á. Việt Nam có 11 loài (T. Smitinand et J. E. Vidal etal, 1990, Dipterocarpaceae; dans Ph. Morat, Fl. c, L et VN.; N°25; 62-82), Ấn Độ có 10 loài, Malaysia, Thái Lan và Mianma là những nước có số loài lớn nhất trong toàn khu vực Đông Nam Á.
Sao đen, cũng như các loài khác cùng chi là những cây gỗ điển hình của vùng Đông Nam và Nam Á. Cây phân bố tương đối phổ biến ở Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam và Malaysia, ở Việt Nam, sao đen có từ các tỉnh phía nam, từ Quảng Bình trở vào, tập trung ở Gia Lai, Kon Turn, Đắc Lắc, Quảng Nam, Quảng Ngãi, vùng phía tây Khánh Hoà, Phú Yên... Cây thường mọc trong các loại rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới; độ cao lên đến 1000 m. Sao đen còn được trồng ở một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang. Những cây sao đen dọc theo phố Lò Đúc, Nguyễn Thượng Hiền, Nhà Thờ (Hà Nội) do người Pháp trồng từ vào đầu thế kỷ XX.
Sao đen ưa sống trên đất ẩm, nhiều mùn có tầng đất mặt sâu. Với khả năng phát triển mạnh về chiều cao, sao đen cùng với một số loài cây gỗ lớn khác, đã tạo nên tầng lập tán hay tầng nhô của một vài loại hình rừng kín thường xanh ở cắc tỉnh phía nam. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm; sau khi quả già rụng xuống đất, hạt thường nảy mầm sớm trong mùa mưa cùng năm. Sao đen khi còn nhỏ là cây chịu bóng tốt.
Sao đen là cây cho gỗ quan trọng ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á. Gỗ sao đen có dầu, để lâu không bị mục, nên được dùng làm tà vẹt đưòng xe lửa, làm cầu, trong xây dựng nhà cửa và đóng đồ dùng gia đình. Lào, Thái Lan và Malaysia là những nước hiện còn trữ lượng gỗ sao đen lớn. Ở Việt Nam, loại gỗ này đã bị khai thác nhiều; diện tích rừng có sao đen cũng bị thu hẹp do nạn phá rừng làm nương rẫy hoặc để trồng cao su và cà phê.

Bộ phận dùng:

Vỏ cây, nhựa (Cortex et Resina Hopeae Odoratae).

Thành phần hóa học:

Vỏ sao đen chứa khoảng. 15% tanin, dùng để thuộc da.
Lá, vỏ cây và gỗ chứa tanin với hàm lượng theo thứ tự 11, 13 - 15 và 10%.
Cây cho nhựa dưới dạng giọt có mùi nhẹ, mặt bẻ bóng. Nhựa có những đặc điểm như điểm chảy 115°, chỉ số xà phòng 37,1, chỉ số acid 31,5, tro 0,56%. (The Wealth of India, 1959).

Tính vị, công năng:

Vỏ cây sao đen có vị chát, có tác dụng làm săn da, cầm máu, làm chắc chân răng.

Công dụng:

Vỏ cây sao đen được dùng chữa viêm lợi, áp xe lợi, sâu răng, làm răng chậm rụng, ở Ấn Độ, nhựa cây được dùng dưới dạng bột làm thuốc cầm máu.
Nhân dân Việt Nam dùng vỏ cây sao đen thay vỏ chay để ăn trầu, cũng với mục đích làm chắc răng.
Nhựa cây sao đen được dùng để pha dung dịch verni, trong công nghiệp sơn và để xăm thuyền.

Để chữa viêm lợi, sâu răng, có thể dùng các cách sau:

1. Lấy vỏ sao đen 50 - 100g, cạo sạch lớp vỏ đen ở ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, rồi ngâm với 100 ml rượu 30 - 40° trong 3 ngày, để lâu càng tốt, sẽ được dịch chiết mầu nâu đen hơi đỏ, ngả sang màu sôcôla. Dùng rượu này súc miệng và ngậm 15-20 phút rồi nhổ nước đi. Ngày 2-3 lần, dùng nhiều ngày.
2. Lấy 50g vỏ đã cạo bỏ vỏ đen, thêm 300 ml nước, cho vào đun sôi, trong 15 phút. Dùng nước này súc miệng và ngậm như trên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

SẢNG-Sterculia lanceolata-Công dụng cách dùng

SẢNG



Tên khoa học: 

Sterculia lanceolata Cav.; Họ Trôm (Sterculiaceae).

Tên khác: 

Sảng lá kiếm, quả thang, trôm thon, trôm mề gà.

Tên nước ngoài: 

Serculie lancéolée (Pháp).

Tên đồng nghĩa: 

Helicteres undulataLoureiro; Sterculia balansae Aug. Candolle.

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây nhỏ hay cây nhỡ, cao 3 - 10m. Cành hình trụ, cành non có lông, cành già nhẵn, có khía dọc, màu xám. Lá mọc so le hình bầu dục hoặc ngọn giáo, dài 9 - 20 cm, rộng 3,5 - 8cm, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có ít lông hình sao, gân phụ tạo thành mạng lưới rõ; lá kèm nhọn, có lôag hình sao, dễ rụng.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm mảnh, dài 4 - 5cm, có lông mềm hình sao; lá bắc ngắn, hình dải, dễ rụng; hoa nhỏ 1 - 5 trên mỗi nhánh; đài có lông ở mặt ngoài, mặt trong có chấm, mép có lông mi; tràng 0; hoa đực có cuống bộ nhị nhẵn, bao phấn xếp hai dãy; hoa cái có bầu hình cầu, nhiều lông.
Quả kép gồm 4 - 5 đại xếp thành hình sao, màu đỏ, phủ lông nhung, khi chín quả đại mở, bên trong nhẵn và bóng; hạt 4-9, hình trứng dẹt, màu đen bóng.
Mùa hoa; tháng 4 - 7; mùa quả: tháng 8 - 10.

Phân bố, sinh thái:

Chi SterculiaL. có 25 loài ở Việt Nam, trong đó có cây sảng. Sảng phân bố rải rác khắp các tỉnh miền núi (dưới 600 m), từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên đến tận Tây Nguyên và Ninh Thuận, đôi khi có cả ở trung du. Cây cũng có ở Lào và Nam Trung Quốc.
Sảng là loại cây ưa sáng, khi nhỏ hơi chịu bóng, thường mọc ở các loại rừng thứ sinh, ven rừng ẩm hoặc ở quần hệ rừng non phát triển trên đất sau nương rẫy. Cây rụng lá hàng năm vào mùa đông, lá non mọc vào mùa xuân, sau đó có hoa, quả chín vào cuối mùa hè. Quả sảng chín tự mở, để lộ các hạt đen ra ngoài, nhưng chưa rụng xuống đất ngay, nên thường bị một số loài chim đến ăn. Tuy nhiên, ở dưới gốc cây mẹ vẫn có thể tìm thấy cây con mọc từ hạt. Cây có khả nàng tái sinh cây chồi sau khi bị chặt.

Bộ phận dùng:

Vỏ cây, lá và hạt (Cortex, Folium et Semen Sterculiae Lanceolatae).

Thành phần hóa học:

Sơ bộ có chất nhầy, tanin (Đỗ Tất Lợi, 1999).

Công dụng:

Vỏ cây sảng được dùng chữa sưng tấy, mụn nhọt, áp xe. Mỗi lần 20 - 30g tươi, giã nát với muối đắp. ở Quảng Tây - Trung Quốc, vỏ cây sắc uống chữa khí hư, bạch đới. Lá tươi giã đắp chữa đòn ngã tổn thương. Hạt ăn được và được dùng chữa háo khát, nóng phổi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

SÀN XẠT-Humulus scandens-Công dụng cách dùng

SÀN XẠT



Tên khoa học: 

Humulus scandens (Lour.) Merr.; Họ: Gai mèo (Cannabaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Antidesma scandens Loureiro, Fl. Cochinch. 1: 157. 1790; Humulopsis scandens (Loureiro) Grudzinskaja; Humulus japonicus Siebold & Zuccarini.

Tên khác: 

Luật thảo, Sàn sạt, Hốt bố leo.

Tên nước ngoài: 

Houblon du Japon.

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Dây leo bằng thân quấn, sống lâu năm, dài 6 - 8m. Thân mảnh hình trụ, có rãnh dọc, có gai nhỏ quặp. Lá mọc đối, lá gần ngọn mọc so le, xẻ 5 thùy hình chân vịt, dài và rộng 8-10 cm, gốc hình tim, đầu nhọn, mép khía răng, hai mặt có nhiều lông nháp, nhất là mặt trên; lá ở ngọn xẻ 3 thùy, gân gốc 3 - 5 ; lá kèm hình trái xoan; cuống lá dài 8 - 10 cm.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá gồm nhiều hoa nhỏ, khác gốc, không cuống; hoa đực mọc thành chùm dài, có 5 lá đài, có lông ở lưng, nhị 5, đối diện với lá đài, chỉ nhị ngắn; hoa cái trần thành xim co gần hình cầu, lá bắc phát triển như lá ở hoa cái.
Quả bế, màu vàng nhạt, có vằn đỏ.
Mùa hoa quả : tháng 7-9.

Phân bố, sinh thái:

Chi HúmulusL. gồm một số loài đều là dây leo, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm và cận nhiệt đới Bắc bán cầu. Ở Việt Nam có 2 loài là húp lông (cây nhập nội) và sàn xạt.
Sàn xạt là loại cây của vùng cận nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở Nhật Bản, Đài Loan, và các tỉnh ở phía nam Trung Quốc, ở Việt Nam, cây có nhiều ở các tỉnh thuộc vùng núi, trung du và đồng bằng phía bắc. Từ Quảng Bình trở vào, ít gặp hơn. Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trùm lên các loại cây bụi, dây leo khác ở ven rừng, nương rẫy cũ, đồi. Ở vùng đồng bằng xung quanh Hà Nội, có thể gặp sàn xạt trong các lùm bụi quanh làng; bờ rào vườn hay những chỗ đất hoang. Cây có khả năng phân nhánh khỏe, sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm. Nếu không bị chặt phá thường xuyên, cây ra hoa nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt.

Bộ phận dùng:

Toàn cây (Herba Humuli Scandentis), thu hái vào mùa hè thu, thái nhỏ, phơi khô.

Thành phần hóa học:

Lá sàn xạt chứa luteolin - 7 - D - glucosid (0,05%), cosmosiin (0,015%), vitextin (0,005%), tinh dầu và tanin. Hạt chứa 27,9% dầu béo.
Toàn cây chứa tinh dầu, acid amin, thành phần tinh dầu gồm α-copen, α, β-selinen và γ cadinen. (Trung dược từ hải 111.711)
Ngoài ra, còn có calci carbonat (CA. 127, 78540m).

Tác dụng dược lý:

Nước sắc sàn xạt thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, cho thẳng vào dạ dày với liều 2g/kg, có tác dụng cầm tiêu chảy do dầu thầu dầu gây nên. Trên tiêu bản hoành tá tràng cô lập thỏ, nước sắc sàn xạt 100% với liều 0,1 ml cho vào dung dịch nuôi, có tác dụng ức chế co bóp do acetylcholin gây nên. Thí nghiệm trên ống kính nước sắc sàn xạt có tác dụng kháng khuẩn đối với các chủng; Staphylococcus aureus, Enterococcus, Bacillus anthracis, Streptococcus haemolyticus, Bacillus typhi, B. diphtheriaeB. dysenteriae.

Tính vị, công năng:

Sàn xạt có vị ngọt, đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu ứ, kiện vị.

Công dụng:

Theo kinh nghiệm nhân dân, lá sàn xạt phơi khô sắc uống chữa kiết lỵ, sốt, khát nước. Lá tươi giã nhỏ lấy nước nhỏ chữa viêm tai. Liều dùng hàng ngày: 10 - 20g dược liệu khô hoặc 60 - 100g cây tươi, ở Trung Quốc, sàn xạt được dùng chữa tiểu tiện khó, lao phổi, lao hạch, viêm phổi, viêm ruột, kiết lỵ, trĩ. Ở Đài Loan, cây được dùng chữa sỏi đường tiết niệu, di tinh, lỵ lâu ngày; quả sàn xạt là thuốc bổ đắng.

Bài thuốc có sàn xạt (tài liệu Trung Quốc)

1. Chữa lao hạch (loa lịch):

Lá sàn xạt tươi 60g, rượu 60g, đường đỏ 120g. sắc nước, chia làm 3 lần uống trong ngày sau bữa ăn.

2. Chữa kiết lỵ hoặc tiểu tiện khó, tiểu tiện ra máu:

Sàn xạt tươi 60 - 120g. sắc nước, chia làm 2 lần uống trước bữa ăn.

3. Chữa trĩ, lòi dom:

Sàn xạt 90g, sắc nước ngâm rửa.

4. Chữa lao phổi, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm:

Sàn xạt 30g, đậu đen 30g. sắc nước uống. Dùng liên tục 7-10 ngày.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

SAM TRẮNG-Bacopa monnieri-Công dụng cách dùng

SAM TRẮNG



Tên khoa học:

Bacopa monnieri (L.) Wettst.; Họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Lysimachia monnieriLinnaeus, Cent. Pl. II 9. 1756; Bacopa monnieria (Linnaeus) Wettstein; Gratiola monnieri (Linnaeus) Linnaeus.

Tên khác: 

Rau sam trắng.

Tên nước ngoài: 

Thyme - leaved gratiola (Anh).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống lâu năm, cao 10 - 20 cm. Thân nhẵn, phần gốc mọc bò, bén rễ ở những mấu, phần trên mọc đứng. Lá mọc đối, không cuống, hình trái xoan, mọng nước, dài 0,8 - 1,2 cm, rộng 3-5 mm, gốc thuôn, đầu tù, hai mặt nhẵn, chỉ gân giữa rõ.
Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá trên một cuống dài; lá bắc dạng lá, lá bắc con hình sợi; đài 5 răng không bằng nhau, 3 cái hình trái xoạn, 2 cái hình chỉ; tràng dài gấp hai lần đài, 5 cánh gần bằng nhau; nhị 4, chỉ nhị nhẵn.
Quả nang, hình trứng nhẵn, có đài tồn tại; hạt nhỏ, có cạnh.
Mùa hoa quả : tháng 4-9.

Phân bố, sính thái:

Bacopa Aubl. là chi tương đối lớn, có khoảng 70 loài, phân bố rải rác khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới; song tập trung nhiều ở khu vực Trung và Nam Mỹ. Ở Việt Nam chỉ có 2 loài. Loài sam trắng được coi là cây liên nhiệt đới, đồng thời cũng có thể thấy ở vùng cận nhiệt đới. Ở châu Á, sam trắng phân bố rộng rãi từ vùng Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào đến các nước khác ở Đông Nam châu Á.
Ở Việt Nam, sam trắng phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và trung du miền Bắc và miền Nam. Cây ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm, pha cát lẫn với các loại cỏ thấp ở bò ruộng, bãi sông, bò kênh mương... Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Cây còn có khả năng mọc chồi khỏe từ kẽ lá, kể cả phần còn sót lại sau khi cắt. Do đó, sam trắng cũng bị coi là loại cỏ dại ảnh hưởng tới cây trồng.

Bộ phận dùng:

Phần trên mặt đất, thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi khô.

Thành phần hóa học:

Sam trắng chứa một triterpen là bacosin. Chất này có tác dụng gây tê.
Ngoài ra, cây còn chứa nhiều saponin triterpenic như bacosaponin A (3-O-α-L-arabinopyranosyl-20 - O - α -L-arabinopyranosyl-jujubogenin), bacosaponin B (3 - O - [α - L - arabinofuranosyl (1 -> 2) α - L - arabinopyranosyl] pseudojujubogenin, bacosaponin C (3-O - [β - D - glucopyranosyl (1 -> 3) [α - L - arabinofuranosyl (1-> 2)] α - L – arabinopyranosyl pseudojujubogenin (Garai Saraswati và cs. 1996).
Theo những tác giả khác, sam trắng chứa một số saponin trilerpen khác là bacosid A1 (3 - O - [α - L- arabinofuranosyl (1 -> 3) a - L - arabinopyranosyl] jujubogenin), bacosid A3 (3 - p - [O - p - D - glucopyranosyl (l->3)-O-[α-L-arabinofuranosyl (1->2)]-O-β-D-glucopyranosyl] jujubogenin.
Theo Proliac A. và cs, 1991; lá chứa 2 glycosylflavonoid là glucuronyl - 7 - apigenin và glucuronyl - 7 - luteolin.
Có tài liệu nêu ở sam trắng có brahmin.

Tác dụng dược lý:

1. Tác dụng trên huyết áp: Alkaloid brahmin chiết từ cây sam trắng với liều 0,5 mg/kg ở mèo có tác dụng làm hạ huyết áp. Tuy nhiên, liều nhỏ hơn lại gây tăng huyết áp nhẹ do co mạch và kích thích cơ tim.
2. Tác dụng trên hô hấp: Brahmin vói liều nhỏ, có tác dụng kích thích hô hấp.
3. Tác dụng trên cơ trơn: ở nồng độ rất loãng 1/200000 đến 1/500 000, brahmin có tác dụng tăng co bóp ruột và tử cung cô lập.
4. Tác dụng kích thích hệ thần kinh: Brahmin cũng giống như strychnin có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, gây hưng phấn các cơ quan, đặc biệt là kích thích tủy sống. Ngoài ra, nó có tác dụng kích thích trực tiếp trên tim, khác với strychnin chỉ gián tiếp kích thích tim.
5. Tác dụng chống ung thư: Cao khô chiết cồn của toàn cây sam trắng có tác dụng ức chế sự phát triển tế bào ung thư Walker carcinosarcoma 256 khi tiêm bắp cho chuột cống trắng.
6. Độc tính: Brahmin có độc tính cao. Ếch bị chết trong vòng 10 phút với một liều 5 mg/kg thể trọng, còn chuột cống trắng và chuột lang chết trong vòng 24 giờ khi dùng liều 25 mg/kg. Cao khô chiết cồn 50° rồi cô chân không có LD50 là 50 mg/kg khi tiêm trong màng bụng cho chuột nhắt trắng.

Tính vị, công năng:

Sam trắng có vị đắng, tính mát, có tác dụng kích thích thần kinh, trợ tim, thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, nhuận tràng.

Công dụng:

Toàn cây sam trắng được dùng chữa suy nhược thần kinh, mất trương lực cơ, động kinh, thao cuồng, mất tiếng, khản tiếng, viêm phế quản cấp, ho, hen. Còn chữa bí đái, viêm gan, thấp khớp, rắn cắn và bệnh ngoài da như da sưng dày lên như da voi, lở, nhọt độc, ghẻ. Ngày 6 - 12g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Ngọn lá sam trắng có thể được dùng như rau sống hoặc nấu chín ăn.

Bài thuốc có sam trắng:

1. Chữa động kinh, thao cuồng, suy nhược thẩn kinh, mất tiếng, khản tiếng (Bài thuốc Brahmi ghrita ở Ấn Độ):

Dùng 4 lít dịch ép sam trắng tươi, 4 lít bơ, các vị thủy xương bồ, mộc hương và rễ cỏ bươm bướm (Canscora decussata (Roxb.) Roem. et Schult., Gentianaceae) mỗi vị 120g đã tán thành bột mịn. Tất cả cho vào đánh kỹ rồi đun nhỏ lửa cho đến khi bốc hết hơi thành bột nhão. Liều dùng 5 - 10g, ngày 2 lần, uống với sữa, sau khi ăn. Có thể chế thành siro rồi uống.

2. Chữa khản tiếng do lao phổi (tài liệu Ấn Độ):

Sam trắng, thủy xương bồ, rễ cang mai, quả chiêu liêu, tất bát (Piper longum L., Piperaceae). Các vị phơi khô tán bột với lượng bằng nhau. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10g với mật ong.

3. Chữa rắn cắn:

Sara trắng 30g, dây mơ lông 30g, lá mướp đắng 30g, đọt cây sậy 20g, rau cần tươi 20g, rau má 20g. Tất cả dùng tươi, giã nát, vắt lấy nước uống, bã đắp (kinh nghiệm của nhân dân Minh Hải).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

SÀI HỒ NAM-Pluchea pteropoda-Công dụng cách dùng

SÀI HỒ NAM



Tên khoa học: 

Pluchea pteropoda Hemsl. ex Hemsl.; Họ: Cúc (Asteraceae).

Tên đồng nghĩa: 

Pluchea leptophylla T.H. Hong & M.Y. Chen

Tên khác: 

Cây lức.

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống lâu năm, cao 40 - 60 cm. Thân hình trụ nhẵn, phân cành nhiều ở gần ngọn, vỏ ngoài màu đỏ nâu. Lá mọc so le, hình bầu dục hoặc hình trứng ngược, dài 3-4 cm, rộng 1-2 cm, gốc thuôn hẹp men theo cuống, đầu tù, mép khía răng, hai mặt nhẵn, phiến dày vò ra có mùi thơm hắc.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành ngù gồm nhiều đầu, đầu gần hình cầu mọc đơn độc hoặc tụ họp 3 - 4 cái, gần như không cuống; lá bắc nhiều, nhẵn; lá bắc trong hẹp dần; hoa màu hồng; mào lông màu trắng bẩn; hoa cái nhiều ở ngoài, có tràng rất hẹp, 4 răng nhỏ; hoa lưỡng tính ít ở giữa có tràng hình trụ, 5 thùy, nhị 5, bao phấn có tai, bầu hơi có tuyến.
Quả bế, hình trụ, có 10 cạnh lồi.
Mùa hoa quả: tháng 5-7.

Phân bố, sinh thái:

Sài hồ nam phân bố chủ yếu ở vùng ven biển nhiệt đới châu Á, từ phía nam Trung Quốc, gồm cả đảo Hải Nam đến Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và một số nước khác ở Đông Nam và Nam Á. Ở Việt Nam, cây cũng chỉ thấy ở các tỉnh vùng ven biển, nhiều nhất ở khu vực miền Trung và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Sài hồ nam thích nghi đặc biệt với các vùng nước lợ; đồng thời cây vẫn có thể sinh trưởng tốt ở vùng nước ngọt hoặc vùng bị nhiễm mặn. Do đó, nơi sống chủ yếu của sài hồ nam thuộc lưu vực các cửa sông, trên bờ các kênh rạch, ven đường đi, bờ ruộng cao ở khu vực ven biển.
Sài hồ nam là cây ưa sáng, thường mọc thành từng khóm riêng lẻ; đôi khi cũng tạo thành quần thể tương đối điển hình dọc theo các bờ kênh mương. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm. Hạt phát tán nhờ gió hoặc theo các dòng nước. Những cây đã trưởng thành có thể chịu được ngập úng một số ngày trong mùa mưa.
Nguồn sài hồ nam mọc tự nhiên ở Việt Nam tương đối dồi dào. Trữ lượng của cây tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, sau đến các tỉnh ven biển Trung Bộ, như Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, Phú Yên. Cây có thể trồng được dễ dàng bằng cành như trồng loài cúc tần.

Bộ phận dùng:

Rễ và lá (Radix et Folium Plucheae Pteropodae).
Rễ thu hái quanh năm, đào về cắt bỏ rễ con, rửa sạch, phơi hay sấy khô. Có thể tẩm rượu hoặc mật ong sao thơm.
Cành mang lá non cũng thu hái quanh năm, dùng tươi, phơi khô hay nấu thành cao.

Thành phần hóa học:

Phần trên mặt đất của sài hồ nam phơi khô, chiết bằng n-hexan chứa các hợp chất triterpenoid: Taraxasteryl acetat (1) và stigmas-5-22-dien-3β-ol (2). Cao chiết bằng n-hexan của rễ lại chứa Hop-17-(21)- en-3β-yl acetat (Đoàn Thanh Tường, Phạm Hoàng Ngọc, Đỗ Như Rạng - Tạp chí hóa học, T. 38. Số 4/2000 trang 1-3).

Tác dụng dược lý:

Các tác giả Lê Minh Xuân, Phạm Thị Bích Thuận (Viện Y học dân tộc) đã nghiên cứu tác dụng dược lý của viên cảm cúm sản xuất từ sài hồ nam và đã có một số nhận xét sau: trên chuột cống trắng gây sốt bằng men bia, viên này dùng với liều 0,3 g/kg thân trọng, làm hạ thân nhiệt 0,2°C sau khi dùng thuốc 3 giờ. Sử dụng viên cảm cúm trên lâm sàng cho 45 bệnh nhân có sốt thì sau khi dùng thuốc 30 phút có 40 bệnh nhân hạ sốt, trong đó có 68,9% trường hợp hạ sốt từ 0,5 đến l,5°C.
Ngoài ra, Lưu Thị Thiên Hương và Phan Văn Minh đã nghiên cứu tác dụng dược lý và hiệu quả điều trị trên lâm sàng của chè giải cảm, trong đó thành phần chủ yếu là lá sài hồ nam và đã kết luận như sau: trên động vật thí nghiệm, chè có tác dụng hạ nhiệt rõ rệt (hạ 0,63°C), kèm theo lợi tiểu, làm tăng nhu động ruột, không có tác dụng lợi mật. Trên lâm sàng, chè có tác dụng hạ sốt kéo dài, lợi tiểu nhẹ, an thần, giảm đau, không ảnh hưởng đến hô hấp và huyết áp.

Tính vị, công năng:

Lá và rễ sài hồ nam có vị mặn, hơi đắng, tính mát, có tác dụng phát tán phong nhiệt, lợi tiểu, điều kinh.

Công dụng:

Sài hồ nam được dùng thay cho sài hồ bắc để chữa sốt, cảm, cúm. Ngày 8 - 20g.

Bài thuốc có sài hồ nam:

1. Chữa sốt cao kèm theo nhức đầu, khát nước:

Rễ sài hồ nam 20g, ngũ gia bì 20g, rau má 16g, lá tre 12g, cam thảo dây 12g, bán hạ 12g sao vàng, gừng tươi 6g. Tất cả phơi khô, sắc với 400 ml còn 100 ml, chia làm 2 lần uống trong ngày trước bữa ăn.

2. Viên cảm cúm của Viện Y học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh:

Mỗi viên có bột lá sài hồ nam 150 mg, cao cùng cây (1:1) 100 mg, bột trần bì 24 mg, bột cam thảo nam 16 mg, bột thủy xương bồ 24 mg, bột lá bạc hà 24 mg, bột mịn phèn phi 20 mg. Ngày uống 2-4 viên, chia làm 2 lần.

3. Chè giải cảm:

Lá sài hồ nam 4 phần, nhân trần 1 phần, bạc hà 1 phần, cam thảo nam 1 phần. Hãm uống như trà.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

SÀI HỒ BẮC-Công dụng cách dùng

SÀI HỒ BẮC



Tên khoa học: 

Bupleurum chinense DC.; Họ Hoa tán (Apiaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Bupleurum chinenseFranchet (1883), not de Candolle (1830); B. chinense de Candolle f. vanheurckii (Müller Argoviensis) R. H. Shan & Yin Li; B. falcatum Linnaeus f. ensifoliumH. Wolff; B. togasii Kitagawa; B. vanheurckii Müller Argoviensis.

Tên nước ngoài: 

Hare's ear, Chinese thoroughwax (Anh).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống nhiều năm, cao 40 - 80 cm. Rễ nhỏ, gầy, hình trụ, ít phân nhánh. Thân mọc đứng, mảnh, đôi khi phân cành, hình chữ chi, nhẵn và có màu lục vàng nhạt. Lá mọc so le, không cuống, hình mác thuôn, dài 3 - 9 cm, rộng 0,6 - 1,2 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mép nguyên có đường gân men, lá phía dưới có cuống ngắn, lá phía trên không cuống; cuống lá có bẹ.
Cụm hoa lá tán kép mọc ở kẽ lá và đầu cành, gồm 3 - 8 tán đơn không bằng nhau; lá bắc hình mác; hoa màu vàng.
Quả hình trứng, dẹt bên, có ngấn dọc.
Mùa hoa quả ; tháng 7-10.

Phân bố, sinh thái:

BupleummL. là chi tương đối lớn, gồm khoảng 100 loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm và cận nhiệt đới Bắc bán cầu; nhưng ở châu Mỹ và châu Phi, mỗi nơi chỉ có 1 loài.
Sài hồ bắc có nguồn gốc ở Nhật Bản và Trung Quốc. Hiện nay, hai nước này cũng là nơi trồng nhiều sài hồ bắc nhất. Năm 1994, Viện Dược liệu nhập hạt giống sài hồ bắc của Nhật Bản đã trồng thử ở Trại thuốc Sa Pa và Tam Đảo. Cây sinh trưởng, phát triển tương đối tốt. Tuy nhiên, về chiều cao, cây trồng ở Tam Đảo thấp hơn ở Sa Pa. Cây trồng ỏ Sa Pa đã cho thu hoạch hạt giống và dược liệu.
Sài hồ bắc ưa khí hậu ẩm mát của vùng ôn đới ấm, nhiệt độ trung bình năm từ 13 đến 18°C, về mùa đông, thường có tuyết hoặc băng giá. Cây trồng sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè và có hoa quả vào mùa thu. Quả già tự mở, hạt rơi vãi trên mặt đất, tồn tại qua mùa đông lạnh và sẽ nảy mầm vào mùa xuân năm sau.

Bộ phận dùng:

Rễ đã được phơi hoặc sấy khô (Radix  Bupleuri).
Bupleurum chinense DC. và B. scorzoneraefolium (Willd.) Ledeb. đều là đồng nghĩa của B. falcatum L. var. scorzoneraefolium (Willd.) Ledeb. (WHO monographs on selected medicinal plants Vol. 1,1999).
Các loài B. falcatum L. và B. marginatumWall, ex DC. cũng được dùng làm thuốc (W. Tang và cs., 1992).

Thành phần hóa học:

Sài hồ bắc chứa các hợp chất thuộc nhiều nhóm thành phần hóa học như saikosaponin, tinh dầu, flavonoid.
Hàm lượng saponin trong rễ là 1,69%, thân và lá : 0,29%. Hàm lượng này cao hay thấp tùy theo kích thước của rễ, cụ thể là 1,24%, 3,18% và 4,86% với các đường kính theo thứ tự 9,5 ; 5,4 và 2,7 mm. Các khảo sát về giải phẫu học cho thấy saponin có trong vỏ rễ mà không phải ở phần gỗ.
Phần trên mặt đất chứa 3 - O - (α - L - arabinopyranosyl (1->3)-0-β-D- glucuropyranosyl) - oleanolic acid β- D - glucopyranosyl ester. (W. Tang và cs, 1992).
Thành phần tinh dầu sài hồ bắc gồm acid pentanoic, acid hexanoic, acid heptanoic, acid 2- heptenoic, acid octanoic, acid octenoic, acid nonanoic, acid 2-nonenoic, phenol, cresol, ethylphenoL, thymol, eugenol, O - methoxyphenol, γ - heptalacton, γ - octalacton, γ - decalacton, y - undecalacton, vanilin acetat, acid valeric và p - methoxyacetophenon.
Hàm lượng tinh dầu là 0,16% trong rễ và 0,05% trong thân.
Lá có nhiều flavonoid : kaempferitrin (kaempferol - 3,7 – dirhamnosid) và kaempferol - 7 - rhamnosid. (W. Tang và cs, 1992).
Sài hồ B. falcatum chứa trong rễ nhiều saponin và sapogenin triterpen (nhóm olean) : saikogenin A, saikogenin B, saikogenin c, saikogenin D, saikogenin E, saikogenin F, saikogenin G, saikosaponin A, saikosaponin B1 - B4, saikosaponin C, saikosaponin D, saikosaponin E và saikosaponin F.
Hàm lượng saponin trong rễ sài hồ không được dưới 1,5%.
Rễ sài hồ chứa 2 polysaccharid có hoạt tính sinh học là các bupleuran 2II b và 2II c.
Ngoài ra, rễ sài hồ còn có α - spinasterol cùng với β - D - glucopyranosid của α - spinasterol.
Theo Morita Makoto và cs, 1991, rễ có 3 polyacetylen là các sarkodiyn A - C cùng với 2Z -9Z - pentadecodien 4,5 - diyn - 1 - ol.
Theo Yamada Akishữo và cs, 1990, polvsaccharid của sài hồ Bupleurum falcatum gồm rhamnose, arabinose, xylose, . galactose, glucose, acid galacturonic...
Theo quy định của Dược điển Trung Quốc (bản in tiếng Anh) 1997, hàm lượng chất chiết của sài hồ bắc tan trong cồn (chiết nóng) là 11%.
Theo cuốn "WHO monographs on selected medicinal plants, 1999", hàm lượng các chất tồn dư thuốc trừ sâu aldrin và dieldrin không được vượt quá 0,05 mg/kg, hàm lượng chì và cadmi không được quá theo thứ tự 10 và 0,3 mg/kg. Tài liệu này còn quy định tồn dư các thuốc phóng xạ : stronti - 90, iod 131, caesi 134, caesii 137, plutoni 239.

Tác dụng dược lý:

- Hoạt tính hạ sốt và giảm đau. 

Một số nghiên cứu in vivo đã xác nhận hoạt tính hạ sốt của rễ sài hồ bắc trong điều trị sốt gây thực nghiệm ở động vật. Cho thỏ đã được gây sốt thực nghiệm uống sài hồ bắc (5g/kg) dạng nước sắc, thân nhiệt thỏ giảm xuống mức bình thường trong vòng 1,5 giờ. Tiêm dưới da cao cồn - nước rễ sài hồ (2,2 ml/kg; l,lg dược liệu/ml) làm hạ sốt ở thỏ được tiêm Escherichia coli.
Cho chuột cống trắng uống saikosaponin làm hạ sốt. Tiêm trong phúc mạc tinh dầu (300 mg/kg), saponin (380 và 635 mg/kg), hoặc α - spinasterol từ rễ sài hồ làm hạ sốt ở chuột nhắt trắng được gây sốt bằng tiêm men bia. Cho chuột nhắt uống 200 - 800 mg/kg phân đoạn saponin thô gây tác dụng an thần, giảm đau và hạ sốt, mà không có tác dụng chống co giật hoặc giảm trương lực cơ. Saikosaponin được coi là thành phần có hoạt tính hạ sốt chủ yếu trong rễ sài hồ bắc.
Hoạt tính giảm đau của cao sài hồ bắc cũng được xác minh trong những nghiên cứu in vivo. Tiêm cao thô sài hồ bắc hoặc sapogenin A tinh chế gây ức chế cơn quặn đau do tiêm phúc mạc dung dịch acid acetic cho chuột nhắt trắng. Saikosaponin là thành phần có hoạt tính giảm đau. Tiêm phúc mạc cho chuột nhắt phân đoạn saponin toàn phần gây giảm đau rõ rệt trên đau do sốc điện. Saikosaponin cho chuột uống cũng có tác dụng giảm đau. Saponin thô có tác dụng giảm ho mạnh với ED50 là 9,1 mg/kg tiêm phúc mạc cho chuột lang.

- Hoạt tính an thần. 

Những nghiên cứu in vivo cũng đã xác nhận tác dụng an thần của rễ sài hồ bắc. Cả phân đoạn saikosaponin thô và saikogenin A đều có tác dụng an thần rõ rệt. Nghiên cứu in vivo dùng thử nghiệm chuột leo que chứng minh tác dụng an thần của saikosaponin (200 - 800mg/kg) ở chuột nhắt trắng giống như của meprobamat (100mg/kg). Cho uống saikosid hoặc saikosaponin A từ sài hồ bắc cũng kéo dài giấc ngủ gây bởi cvclobarbital natri. Tiêm phúc mạc saikogenin A ức chế sự leo que ở chuột nhắt trắng và đối kháng với tác dụng kích thích của metamphetainin và cafe in.

- Hoạt tính chống viêm. 

Tiêm phúc mạc phân đoạn saponin, tinh dầu hoặc cao thô từ sài hồ bắc ức chế phù bàn chân chuột gây bởi caragenin. Saikosaponin là hoạt chất chống viêm. Cho uống saikosaponin thô (2g/kg) ức chế phù bàn chân chuột gây bởi dextran, serotonin, hoặc dầu ba đậu. Hoạt lực chống viêm của saikosaponin tương tự như của prednisolon. Trong tinh dầu của sài hồ bắc có các hoạt chất hạ sốt là eugenol, acid hexanoic, γ - undecalacton, và p- methoxyacetophenon; các hoạt chất chống viêm là acid valeric, acid 2-nonenoic và p- methoxyacetophenon.
α - Spinasterol phân lập từ sài hồ bắc ức chế phù bàn chân chuột gây bởi caragenin ở chuột cống và nhắt trắng nguyên vẹn và cắt bỏ tuyến thượng thận, và cũng ức chế phù chân chuột do bỏng và sự tăng sinh mô hạt trong túi u hạt gây bởi dầu ba đậu ở chuột cống trắng. Cơ chế chống viêm của α - spinasterol phức tạp. Tác dụng ức chế rõ rệt trên sự tổng hợp hoặc giải phóng PGE và bradvkinin, ức chế tác dụng gây viêm của PGE, bradykidin, histamin, serotonin, và ức chế sự di cư của bạch cầu. Những tác dụng này không do kích thích trục tuyến yên - tuyến thượng thận; tuy vậy, trọng lượng tuyến thượng thận tăng lên có ý nghĩa bởi tiêm phúc mạc α - spinasterol 48 mg/kg ngày một lần trong 7 ngày.

- Hoạt tính điều hòa miễn dịch. 

Nghiên cứu in vivo chứng minh cao chiết với nước nóng từ rễ sài hồ bắc làm tăng đáp ứng kháng thể và ức chế sự biến đổi của tế bào lympho gây bởi chất tạo phân bào. Một polysacharid, bupleuraii 2IIb phân lập từ rễ sài hồ bắc, làm tăng mạnh sự gắn của phức hợp miễn dịch vào đại thực bào. Hoạt tính của polysacliarid này có vẻ do khả năng làm tăng chức năng của thụ thể Fc ở đại thực bào. Nghiên cứu này cho thấy sự gắn của phức hợp glucose oxydase - kháng glucose oxydase (một mô hình của phức hợp miễn dịch) vào đại thực bào phúc mạc chuột được kích thích bởi việc điều trị với polysacharid. Bupleuran 2IIb điều hòa làm tăng sự biểu hiện của các thụ thể FcRI và FcRII trên bề mặt đại thực bào phụ thuộc vào liều, tác dụng điều hòa này phụ thuộc vào sự tăng calci nội bào và sự hoạt hóa cadmodulin.
Saikosaponin D làm tăng sự biểu hiện của thụ thể Fc của đại thực bào phúc mạc chuột gây bởi thioglycolat in vitro. Hoạt tính này do sự chuyển dịch của FcR từ dự trữ bên trong lên bề mặt tế bào. Chất này có khả năng, trong nghiên cứu in vitro, kiểm soát hai chiều đáp ứng phát triển của tế bào lympho T kích thích bởi concanavalin A, và kháng thể đơn dòng vô tính kháng CD3.
Saikosaponin D cũng làm tăng sản sinh interleukin-2 và sự biểu hiện c-fos của thụ thể, cũng như sự phiên mã của gen. Như vậy, saikosaponin D có tác dụng kích thích miễn dịch có thể do làm thay đổi chức năng của tế bào lympho T.

- Hoạt tính chống loét đã được chứng minh in vivo và in vitro. 

Một phân đoạn polysacharid của cao chiết nước nóng rễ sài hồ bắc ức chế có ý nghĩa sự sinh loét bởi acid hydrocloric hoặc ethanol ở chuột nhắt trắng. Phân đoạn polysacharid (BR-2 100 mg/kg) có hoạt tính chống loét mạnh, như sucralfat (100 mg/kg). BR- 2 bảo vệ có ý nghĩa chống nhiều thương tổn dạ dày, loét do stress ngâm nước và loét do thắt môn vị ở chuột nhắt và chuột cống trắng. Cho uống, tiêm phúc mạc hoặc dưới da, BR-2 có tác dụng chống loét dạ dày gây bởi acid hydrocloric hoặc ethanol, như vậy BR-2 tác dụng cả tại chỗ và toàn thân. Cơ chế của tác dụng chống loét có vẻ do tăng cường hàng rào bảo vệ niêm mạc, và do tác dụng kháng tiết acid và pepsin. Saponin có hoạt tính chống loét yếu trên mô hình loét do thắt môn vị.
- Hoạt tính bảo vệ gan. Saponin thô từ sài hồ bắc cho chuột cống trắng uống (500 mg/kg/ngày x 3 ngày), làm bình thường hóa chức năng gan, qua xác định phosphatase kiềm trong huyết thanh chuột gây nhiễm độc gan với carbon tetraclorid. Điều trị chuột cống trắng với saikosaponin 2 giờ trước khi cho D-galactosamin, đã ức chế sự tăng aspartat aminotransferase (AST) và alanin aminotransferase (ALT) trong huyết thanh do tổn thương mô gan.
Trong mô hình gây tổn thương gan cấp tính với carbon tetraclorid trên chuột cống trắng, nhóm chuột điều trị với cao methanol sài hồ bắc (160 mg/kg/ngày x 1,2,3 ngày) hồi phục nhanh hơn, trở về mức bình thường của đường máu và hoạt độ của AST, ALT, phosphatase kiềm và 5'-nucleotidase ở ngày 2 và 3, và của mức glycogen gan, lipid peroxyd tiểu thể gan và hoạt độ của glucose - 6 - phosphatase vào ngày 3. Trong thử nghiệm in vitro, cao methanol ức chế sự peroxy hóa lipid phụ thuộc vào liều. Cao methanol sài hồ bắc làm tăng sự phục hồi tổn thương gan cấp tính gây bởi CCl4 có thể do tác dụng chống oxy hóa. Các saikosaponin A và D có tác dụng trên các enzym gan và làm tăng tác dụng của cortison kích thích tyrosin aminotransferase của gan. Chức năng gan được cải thiện khi dùng lâu dài các saponin sài hồ chứa saikosaponin A và D hoặc B và C. Có hiệu lực tốt dự phòng tổn thương gan, làm tăng tổng hợp protein ở gan.

- Dược lý lâm sàng. 

Hoạt tính hạ sốt của sài hồ bắc đã được nghiên cứu trên bệnh nhân bị sốt do cảm lạnh, cúm, sốt rét và viêm phổi. Trong một nghiên cứu lâm sàng, 143 bệnh nhân điều trị với sài hồ bắc đã giảm sốt trong vòng 24 giờ ở 98,1% các trường hợp cúm, và 87,9% các trường hợp cảm lạnh. Trong một nghiên cứu khác, 40 bệnh nhân bị sốt do bị bệnh nhiễm khuẩn đã giảm sốt có ý nghĩa (1 - 2°C), nhưng tác dụng hạ sốt chỉ trong thời gian ngắn, trừ phi phối hợp với liệu pháp kháng sinh. Liều thường dùng mỗi ngày : 3 - 9g.
Sài hồ bắc được dùng trên lâm sàng để điều trị viêm gan mạn, chứng gan to kèm theo đau ở phía bên phải của 1/4 cơ thể, chứng lách to, tổn thương gan do dùng hóa chất, sung huyết gan. Sài hồ bảo vệ gan khỏi tổn thương do nhiễm độc gan, và eải thiện chức năng gan sau điều trị 2 - 3 tháng. Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh saikosaponin có thể làm giảm hoặc loại trừ kháng nguyên HBeAg.
Đối với bệnh hắc võng mạc trung tâm là bệnh thường gặp làm thị lực giảm, xuất hiện án điểm trung tâm hay cạnh trung tâm, hoàng điểm phù nề hay xuất tiết, đã áp dụng viên "Minh mục" bào chế từ sài hồ bắc và 8 dược liệu khác để điều trị đạt kết quả tốt. Trên 265 bệnh nhân gồm 60 bệnh nhân viêm hắc võng mạc trung tâm giai đoạn đầu và 205 bệnh nhân giai đoạn sau, đã có tác dụng tốt làm tăng thị lực. Những bệnh nhân thị lực tăng từ 6/10 trở lên đều hết án điểm. Những người thị lực tăng dưới 5/10, án điểm chỉ nhạt đi và còn kéo dài một thời gian. Đáy mắt của bệnh nhân ở giai đoạn đầu hết phù nề và không thay đổi rõ ở bệnh nhân giai đoạn sau của bệnh.
Sài hồ bắc có trong thành phần một bài thuốc cổ truyền Trung Quốc cùng với 4 dược liệu khác, được áp dụng điều trị cho 530 bệnh nhân tăng sản mô vú, có tỷ lệ khỏi trên 90%.
- Các tác dụng dược lý khác. Saikosaponin D từ rễ sài hồ bắc ở nồng độ trên 5 µM có tác dụng trực tiếp gây bất hoạt trên virus sởi và virus herpes sau khi ủ với thuốc trong hơn 10 phút ở nhiệt độ phòng. Ngược lại, việc ủ vi khuẩn bại liệt với ngay cả 500 µM saikosaponin D cũng không làm mất khả năng gây nhiễm, mặc dù cùng nồng độ saikosaponin D gây mất hoàn toàn khả năng gây nhiễm của virus sởi và virus herpes. Saikosaponin D có tác dụng trên thương tổn thận gây bởi aminonucleosid ở chuột cống trắng, dự phòng sự phát triển của protein niệu, và làm giảm sự bất thường ở các tế bào biểu mô tiểu cầu thận, qua soi kính hiển vi điện tử.
Saikosaponin sài hồ bắc với nồng độ thấp gây ổn định màng và bảo vệ hồng cầu chống sự tan máu nhược trương và gây bởi nhiệt ở chuột cống trắng. Saikogenin cũng bảo vệ hồng cầu chống sự tan máu nhược trương, nhưng không dự phòng sự tan máu gây bởi nhiệt. Sự sinh tổng hợp PGE2 được kích thích bởi saikosaponin B1, B2 và D, nhưng bị ức chế bởi saikosaponin A và C. Saponin thô làm tăng co bóp hồi tràng cô lập chuột lang gây bởi acetylcholin, nhưng không làm tăng co bóp gây bởi histamin; và có tác dụng hạ áp nhất thòi và giảm nhịp tim ở chó.
Nước sắc sài hồ bắc có tác dụng đối kháng với co giật gây bởi cafein ở chuột nhắt trắng và tác dụng giảm đau mức độ vừa được đối kháng một phần bởi atropin và naloxon. Saikosaponin thô gây co cứng cơ thẳng bụng cóc cô lập và hồi tràng cô lập chuột lang. Sự co cứng cơ thẳng bụng cóc cô lập được đối kháng bởi tubocurarin clorid, sự co cứng hồi tràng cô lập chuột lang được đối kháng bởi atropin. Saikosaponin thô cũng có tác dụng ức chế rõ rệt trên hoạt tính của acetylcholinesterase trong máu chuột cống trắng. Phân đoạn saponin thô từ rễ sài hồ bắc có LD50 cho uống trên chuột nhắt trắng là 4.900 mg/kg, và tiêm phúc mạc cho chuột lang là 58,3 mg/kg. LD50của α- spinasterol từ sài hồ bắc tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng là 479 mg/kg.

Tính vị, công năng:

Sài hồ bắc có vị đắng, mùi thơm, tính mát, vào 4 kinh: can, đởm, tâm bào và tam tiêu, có tác dụng hạ nhiệt, giải cảm, thông khí, nhuận gan, sáng mắt, trừ sốt rét.

Công dụng:

Sài hồ bắc được dùng chữa sốt cao, nhức đầu, chóng mặt, sốt do thương hàn, sốt rét, ngực bụng đầy trướng, kinh nguyệt không đều. Ngày dùng 4 - 12g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Có thể tăng giảm liều tùy theo tình hình bệnh tật cụ thể.
Trong y học cổ truyền của các nước phương Đông, sài hồ bắc được dùng điều trị sốt, đau và viêm kết hợp với cúm và cảm lạnh, giảm đau trong điều trị đau tức ở ngực và vùng hạ sườn, điều trị vô kinh, viêm gan mạn tính, hội chứng hư thận và bệnh tự miễn dịch. Trong y học dân gian của một số nước, sài hồ bắc chữa điếc, chóng mặt, đái tháo đường, vết thương và nôn mửa.
Trong y học cổ truyền Trung Quốc, sài hồ bắc được sử dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh về gan và túi mật. Chống chỉ định trong bệnh sỏi mật. Dùng trong những bệnh nhiễm khuẩn có sốt, điều trị chóng mặt, nhức đầu, và phối hợp với các vị khác làm thuốc lợi tiểu. Sài hồ bắc còn được dùng làm thuốc hạ sốt trong bệnh sốt rét, và làm thuốc bổ. Dùng ngoài, trong các bệnh về mắt, các bệnh da ngứa và có mủ.
Trong bệnh nhiễm khuẩn, dùng sài hồ bắc phối hợp với các dược liệu khác. Để chữa viêm gan, viêm túi mật, viêm ống mật, dùng 30g sài hồ bắc mỗi ngày dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm trong 20 ngày hoặc lâu hơn. Trong y học cổ truyền Ấn Độ, sài hồ bắc là thuốc chữa bệnh về gan và dạ dày.

Bài thuốc có sài hồ bắc:

1. Chữa sốt, sốt do hư lao, cảm mạo:

a) Sài hồ bắc 15g, bán hạ 7g; nhân sâm, sinh khương, cam thảo, đại táo, mỗi vị 4g; hoàng cầm 2,5g. Sắc uống ngày một thang.
b) Sài hồ bắc 100g, cam thảo 25g. Tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày dùng 8g, với một bát nước.

2. Chữa suy nhược cơ thể ở người có bệnh mạn tính ở phổi và đường tiêu hóa:

Sài hồ bắc 10g, đảng sâm 16g; hoài sơn, bạch truật, đại táo, mỗi vị 12g; phục linh, địa hoàng, bạch thược, đương quy, thần khúc, bạch chỉ, mạch môn, mỗi vị 10g; phòng phong 9g; biển đậu, cát cánh, mỗi vị 8g; cam thảo 6g; can khương, quế chi, mỗi vị 4g. Tán nhỏ, uống mỗi ngày 20g.

3. Điều trị giai đoạn hồi phục sau áp xe phổi:

Sài hồ bắc 8g, đảng sâm 16g; hoàng kỳ, bạch truật, mỗi vị 12g; đương quy, thăng ma, bạch thược, mỗi vị 8g; trần bì, cam thảo, ngũ vị tử, mỗi vị 6g. sắc uống ngày một thang.

4. Chữa tăng huyết áp ở người trẻ, hoặc trong rối loạn tiền mãn kinh:

Sài hồ bắc 8g, xa tiền 16g, sinh địa 14g; hoàng cầm, chi tử, trạch tả, mỗi vị 12g; long đởm thảo, đương quy, mộc thông, mỗi vị 8g; cam thảo 4g. sắc uống ngày một thang.

5. Chữa chứng tăng huyết áp do các bệnh gây ra:

Sài hồ bắc, câu đằng, hoàng cầm, xa tiền, mộc thông, mỗi vị 12g; thiên ma, chi tử, xuyên khung, bạch thược, đương quy, mỗi vị 8g .sắc uống ngày một thang.

6. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng:

a) Sài hồ bắc, bạch thược, mỗi vị 12g; chỉ xác, xuyên khung, hương phụ, thanh bì, mỗi vị 8g; cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
b) Sài hồ bắc, sinh địa, hoài sơn, bạch thược, đại táo, mỗi vị 12g; sơn thù, phục linh, trạch tả, đan bì, đương quy, chi tử, mỗi vị 8g. sắc uống ngày một thang.

7. Chữa tiêu chảy mạn tính:

Sài hồ bắc 12g; phòng phong, bạch thược, bạch truật, mỗi vị 8g; cam thảo, trần bì, chỉ xác, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.

8. Chữa viêm gan virus mạn tính:

a) Sài hồ bắc, bạch truật, đảng sâm, bạch thược, mỗi vị 12g; phục linh, bán hạ chế, mỗi vị 8g; cam thảo, trần bì, mỗi vị 6g. sắc uống ngày một thang.
b) Sài hồ bắc 12g; bạch thược, xuyên khung, đương quy, đại táo, mỗi vị 8g; chỉ thực, hậu phác, cam thảo mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
c) Sài hồ bắc, bạch thược, đương quy, bạch truật, bạch linh, mỗi vị 12g; uất kim 8g, cam thảo 4g, gừng sống 2g. Sắc uống ngày một thang, hoặc tán bột uống 20g mỗi ngày.

9. Chữa di tinh:

Sài hồ bắc 12g; long cốt, hạt muồng, mỗi vị 16g; đảng sâm, khiếm thực, liên nhục, mỗi vị 12g; phục linh, viễn chí, mỗi vị 8g. sắc uống ngày một thang.

10. Chữa đái dầm:

a) Sài hồ bắc 10g; đảng sâm, bạch truật, hoàng kỳ, đương quy, mỗi vị 12g; thăng ma 10g; trần bì, cam thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
b) Sài hồ bắc, chi tử, tri mẫu, mộc thông, sinh địa, mỗi vị 8g; long đởm thảo, hoàng bá, cam thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.

11. Chữa suy nhược thần kinh, nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt, khó ngủ:

a) Sài hổ bắc 12 - 16g; chi tử, mạn kinh, cúc hoa, láo nhân, bá tử nhân, mỗi vị 8 - 12g. sắc uống ngày một thang.
b) Sài hồ bắc 12g; đương quy, bạch thược, bạch truật, phục linh, bạc hà, mỗi vị 8g; cam thảo 6g; sinh khương 4g. sắc uống ngày một thang.
c) Sài hồ bắc, hoàng cầm, bạch truật, phục linh, bạch thược, đại táo, mỗi vị 12g; thanh bì, bạc hà, uất kim, hương phụ, chỉ xác, táo nhân, mỗi vị 8g; cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.

12. Chữa bệnh hysteria, rối loạn thần kinh chức năng do sang chấn tinh thần:

Sài hồ bắc, bạch linh, bạch thược, bạch truật, hoàng cầm, mỗi vị 12g; bạc hà, uất kim, chỉ xác, mỗi vị 8g; trần bì, cam thảo, mỗi vị 6g; gừng 4g. sắc uống ngày một thang.

13. Chữa lao hạch:

Sài hồ bắc 8g; thạch quyết minh (hoặc mẫu lệ) 40g; hạ khô thảo, bạch cương tàm, hải tảo, bạch thược, hương phụ, mỗi vị 12g; trần bì 6g. sắc uống ngày một thang.

14. Chữa viêm túi mật; viêm đường dẫn mật:

Sài hồ bắc 16g; long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử, mỗi vị 12g; cam thảo, đại hoàng, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.

15. Chữa rò hậu môn:

Sài hồ bắc, hoàng cầm, mã đề, mỗi vị 16g; long đởm thảo, trạch tả, mộc thông, đương quy, sinh địa, mỗi vị 12g; chi tử 8g, cam ihảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

16. Chữa kinh nguyệt nhiều, trước kỳ:

Sài hồ bắc, bạch thược, bạch truật, đan bì, mỗi vị 12g; đương quy, bạc hà, bạch linh, chi tử, mỗi vị 8g; gừng sống 2g. Sắc uống trong ngày.

17. Chữa kỉnh nguyệt ra ít, bụng dưới chướng đau:

Sài hồ bắc, bạch truật, mỗi vị 12g; phục linh, bạch thược, mỗi vị 8g; trần bì, đương quy, mỗi vị 6g; cam thảo, bạc hà, gừng, mỗi vị 4g. Sắc uống trong ngày.

18. Chữa đau kinh :

Sài hồ bắc, xuyên khung, mỗi vị 12g; thương truật, hương phụ, hậu phác, chỉ xác, chi tử, mỗi vị 8g; thần khúc 6g. Sắc uống trong ngày.

19. Chữa rong huyết:

Sài hồ bắc, khương hoạt, thương truật, hoàng kỳ, phòng phong, mỗi vị 8g; thăng ma, cảo bản, mạn kinh, độc hoạt, đương quy, mỗi vị 6g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

20. Chữa rong huyết sau khi đẻ:

Sài hồ bắc, bạch thược, bạch linh, bạch truật, bạc hà, chi tử sao, sinh địa, mỗi vị 8g; trần bì 6g, cam thảo 4g, sinh khương 2g. sắc uống ngày một thang.

21. Chữa khí hư:

Sài hồ bắc 8g; long đởm thảo, mã đề, mỗi vị 12g; trạch tả, mộc thông, sinh địa, đương quy, hoàng cầm, chi tử, mỗi vị 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

22. Chữa vú căng đau, sữa không xuống sau khi đẻ:

Sài hồ bắc 12g; bạch thược, đương quy, bạc hà, bạch linh, bạch truật, mộc thông, mỗi vị 8g; trần bì, thông thảo, mỗi vị 6g; cam thảo 4g, sinh khương 2g. Sắc uống ngày một thang.

23. Chữa đái són, không tự chủ sau khi đẻ:

a) Sài hồ bắc 12g; đảng sâm, ý dĩ, hoài sơn, mỗi vị 16g; bạch truật, kim anh, khiếm thực, liên nhục, mỗi vị 12g; tang phiêu tiêu 8g. Sắc uống ngày một thang.
b) Sài hồ bắc 12g; đảng sâm 16g; hoàng kỳ, bạch truật, thăng ma, sơn thù, khiếm thực, hoài sơn, mỗi vị 12g; đương quy, tang phiêu tiêu, mỗi vị 8g; trần bì 6g; cam thảo 4g. sắc uống ngày một thang.

24. Chữa sa tử cung:

a) Sài hồ bắc 12g; đảng sâm 16g; hoàng kỳ, bạch truật, thăng ma, mỗi vị 12g; đương quy, trần bì, mỗi vị 8g; cam thảo 4g. sắc uống ngày một thang.
b) hồ bắc 8g; đảng sâm, thăng ma, mỗi vị 12g; bạch truật, đương quy, tục đoạn, quất hạch, mỗi vị 10g; trần bì 6g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

25. Chữa chàm:

Sài hồ bắc 8g; trạch tả, sinh địa, mỗi vị 12g; long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử, mộc thông, mã đề, mỗi vị 8g; thuyền thoái 6g; cam thảo 4g. sắc uống ngày một thang.

26. Chữa viêm tai giữa mạn tính:

Sài hồ bắc, đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, phục linh, mỗi vị 12g; đương quy, thăng ma, hoàng bá, hoàng liên, mỗi vị 8g; trần bì 6g, cam thảo 4g. Tán bột, ngày dùng 20g, chia 3 lần uống.

27. Chữa hoa mắt, chóng mặt, ù tai:

Sài hồ bắc 12g; sinh địa, mã đề, mẫu lệ sống, raỗi vị 16g; long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử, mộc thông, địa long, mỗi vị 12g; đương quy, trạch tả, mỗi vị 8g; cam thảo 4g. sắc uống ngày một thang.

28. Chữa thấp khớp, đau đầu, cứng gáy, tay chân buồn mỏi:

Sài hồ bắc, bạch linh, mỗi vị 120g; kinh giới, phòng phong, mỗi vị 100g; khương hoạt, độc hoạt, tiền hồ, cam thảo, cát cánh, chỉ xác, xuyên khung, mỗi vị 80g. Tán bột mịn, ngày uống 20g chia 2 lần, trước bữa ăn.

29. Chữa bệnh hắc võng mạc trung tâm (Bài thuốc Minh mục):

Sài hồ bắc 12g; thục địa 16g; hoài sơn, đan bì, trạch tả, phục linh, đương quy, mỗi vị 12g; sơn thù 8g, ngũ vị 4g. Sắc uống ngày một thang, hoặc làm thuốc viên, ngày uống 25 - 40g.

30. Chữa u xơ tuyến vú:

a) Sài hồ bắc 12g; đan sâm 16g; toàn quy, xích thược, lá quất, hồng hoa, huyền hồ, đào nhân, hương phụ chế, xuyên luyện tử, mỗi vị 12g. Uống ngày một thang. Sau khi đã giảm đau và khối u mềm đi, chuyển sang bài hoạt huyết hóa ứ, tiêu tán khối u như sau:
b) Sài hồ bắc 12g; mẫu lệ 20g; đan sâm, xuyên sơn giáp, mỗi vị 16g; toàn xuyên quy, xích thược, hồng hoa, đào nhân, tam lăng, nga truật, mỗi vị 12g. sắc uống ngày một thang.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

SÀI ĐẤT-Công dụng cách dùng

SÀI ĐẤT



Tên khoa học: 

Wedelia calendulacea (L.) Less.; Họ Cúc (Asteraceae).

Tên đồng nghĩa: 

Wedelia chinensis (Osbeck) Merr.; Sphagneticola calendulacea(L.) Pruski

Tên khác: 

Cúc nháp, ngổ núi, húng trám, ngổ đất, tân sa, lỗ địa cúc.

Tên nước ngoài: 

Wédélie de Chine (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống dai, mọc bò, bén rễ ở thân ngầm, sau đứng thẳng, cao 20 - 40 cm. Lá gần như không cuống, mọc đối, hình bầu dục thuôn, gốc và đầu nhọn, dài 1,5-5 cm, rộng 0,8 - 2 cm, hai mặt có lông thô cứng, mép có 3 đôi răng cưa to và nông; lá khi vò ra có mùi thơm như trám.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá và đầu cành thành đầu trên một cán dài 3 - 10 cm, đường kính 1-1,5 cm; lá bắc ngoài gần hình bầu dục, tròn ở đỉnh; không có mào lông; hoa màu vàng; tràng hình lưỡi ở phía ngoài, có đầu bẹt khía 3 răng, ống tràng rất ngắn; tràng hình ống ở phía giữa, có 5 thùy hình bầu dục tù, nhị 5, bao phấn có đỉnh hẹp ở phần gốc, không có tai; bầu hình nêm.
Quả bế.
Mùa hoa quả : tháng 3-5.

Cây dễ nhầm lẫn:

Cỏ mui (Tridax procumbens L.) cùng họ, tên khác là sài lan, sài lông, cúc mui, thu thảo. Cây thảo, sống lâu năm, mọc bò. Lá mọc đối, có nhiều răng nhọn không đều. Hoa màu trắng. Quả bế có nhiều lông. Toàn cây có nhiều lông trắng dày và cứng.

Phân bố, sinh thái:

Chi WedeliaJacq. gồm các loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, chỉ có một số ít loài ở vùng ôn đới ấm. Chi này ở Việt Nam có 5 loài, trong đó 5 loài được dùng làm thuốc (Võ Vãn Chi, 1996), đáng chú ý là cây sài đất.
Sài đất mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi. Cây mọc hoang ở vùng núi thấp hoặc trung du. Điểm phân bố tự nhiên điển hình nhất là ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, ở đây, cây mọc thành đám dày đặc trên đất ẩm sát chân núi đá vôi hoặc ở những bãi đất cao trong thung lũng, xung quanh bị lầy thụt (vùng Tam Cốc, Bích Động). Tuy nhiên, nguồn sài đất được dùng làm thuốc hiện nay chủ yếu do trồng trọt. Cây được trồng rộng rãi ở khắp các tỉnh từ vùng núi đến trung du và đồng bằng, ở vùng núi cao lạnh như ở Sa Pa (Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), Phó Bảng (Hà Giang)... không thấy có sài đất.
Sài đất là cây rất ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng. Có thể trồng sài đất trên cánh đồng hoặc trồng ở vườn, lẫn với các loại cây ăn quả. Cây ra hoa hàng năm. Ở nơi trồng được chiếu sáng đầy đủ, cây có nhiều hoa hơn. Ở Quảng Tây (Trung Quốc), sài đất được trồng thành thảm lớn ở công viên để làm cảnh. Sài đất ra hoa nhiều nhưng tỷ lệ kết quả thấp. Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng khỏe. Từ các mấu của thân ngầm hoặc cành (khi tiếp xúc với mặt đất) đều có thể ra rễ và mọc lên các chồi. Đặc biệt, sau mỗi lần bị cắt, phần thân ngầm và gốc còn lại sẽ nhanh chóng mọc lên các cây chồi mới.

Cách trồng:

Sài đất thích nghi rộng, ưa đất ẩm, nhẹ và nhiều ánh sáng, nhưng không chịu được úng.
Cây được trồng bằng đoạn thân có rễ vào mùa xuân. Đất sau khi làm kỹ, nhặt sạch cỏ, cần lên luống như luống rau cải, đánh thành rạch sâu 10 cm theo chiều ngang hoặc dọc luống, cách nhau 20 - 30 cm. Trộn ít phân chuồng vào rạch rồi đặt hom giống, phủ đất và tưới ẩm. Sau 1,5-2 tháng, cây đã phủ kín luống và có thể thu hoạch. Sau mỗi lần thu hoạch, cần làm cỏ và bón thúc thêm phân.

Bộ phận dùng:

Phần trên mặt đất, thu hái quanh năm, chủ yếu vào mùa hè thu lúc cây đang ra hoa, rửa sạch dùng tươi hay phơi sấy khô.

Thành phần hóa học:

* Nước ép của cây sài đất có dầu màu đen hòa tan 11,2%, chất béo 29,7%, nhựa 44,95%; đường, tanin, saponin, các chất silice, pectin, mucin, lignin và các chất có cellulose. Lá có chất wedelolacton vừa là một flavonoid vừa là coumarin. Ngoài ra, còn có tinh dầu và muối vô cơ. (Võ Văn Chi - Từ điển cây thuốc Việt Nam - 1999).
* Theo tài liệu Trung Quốc, sài đất chứa wedelolacton, dimethyl wedelolacton, nor-wedelic acid và một saponin triterpen tương tự saponin Ro của nhân sâm (Trung dược từ hải IV. 40).
* Govindachari T. R., Premila M. S đã tách được 3 chất saponin có hai dây đường đính vào khung acid oleanolic từ lá sài đất tươi. Cấu trúc của 2 chất được xác định là β-D-glucosyl pyranosyl-3 - O - [O - β - D - xylo pvranosyl) (1 2), β. D-glucuronopyranosyl oleanolat.
(=β-D-glucopyranosyl-3-β0[CO-β-D-xylopyranosyl) (1 -> 2) (β-D-glucuronopyranosyl)] olean- 12 -en - 28 oat) (I).
Chất thứ hai được xác định có cấu trúc tương tự như ginsennosid Ro có trong nhân sâm.
Phân tích sài đất Ấn Độ không thấy có mặt của alkaloid nhưng những nghiên cứu ở Trung Quốc lại thấy có mặt các alkaloid trong cành, lá và hoa sài đất.
Chất isoflavonoid trong lá sài đất có cấu trúc lacton của 5 - 6 dihydroxy - 2 - (2:6 dihydroxy 4 methoxy phenyl). benzofuran-3 carboxylic với hàm lượng 0,05%. Chất này tương tự chất comestrol có tác dụng oestrogen (The Wealth of India, Vol X. p. 568).

Tác dụng dược lý:

Trong ống nghiệm, tác dụng kháng sinh của sài đất rất thấp, tạo vòng vô khuẩa rất bé, đối với
Staphylococcuslà 0,3 cm. Streptococcus 0,1 cm, Bacillus typhi 0,1 cm. Shigella flexneri không có tác dụng. Còn trên lâm sàng, ngược lại sài đất biểu hiện tác dụng kháng sinh và chống viêm rất rõ. Năm 1966, Bệnh xá Ngô Quyền - Hải Phòng đã theo dõi 21 trường hợp viêm nhiễm trùng phần mềm (viêm tấy tỏa lan hay khu trú viêm quầng, áp xe, đầu đanh, phần lớn có sốt) chỉ dùng sài đất giã nát đắp lên chỗ viêm, không cho uống và không dùng một thứ thuốc nào khác, và kết luận tác dụng chống viêm của sài đất rất rõ, với những hiện tượng sưng nóng đỏ đau dần dần biến mất; Sài đất không có tác dụng đối với những trạng thái viêm đã chuyển sang mưng mủ, áp xe hóa.
Theo tài liệu nước ngoài, dạng chiết nước từ sài đất có tác dụng ức chế tế bào u báng Ehrlich.

Tính vị, công năng:

Sài đất có vị ngọt, hơi chua, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa đàm, chỉ khái, lương huyết, chỉ huyết, khư ứ, tiêu thũng.

Công dụng:

Nhân dân ở một số địa phương (Bắc Ninh, Bắc Giang) vẫn dùng cây sài đất ăn sống như rau với thịt, cá. Ở một số nơi khác, sài đất được dùng tắm trị rôm sảy hoặc uống để phòng bệnh sởi, chữa sốt rét. Từ kinh nghiệm điều trị của Bệnh viện Bắc Giang, hiện nay sài đất được sử dụng rộng rãi như một thuốc chống viêm, chống nhiễm khuẩn, tiêu độc chữa viêm tấy, mụn nhọt, bắp chuối, sưng khóp, nhiễm trùng, chốc đầu, sưng vú, apxe, viêm họng. Có địa phương đã dùng sài đất chữa viêm bàng quang với kết quả tốt.
Khi dùng, lấy 50 - 100g sài đất tươi giã nát, hòa thêm nước gạn uống, bã đắp vào chỗ sưng tấy. Nếu dùng sài đất khô thì lấy 20 - 40g sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2-3 lần trong ngày. Trẻ em tùy tuổi uống 1/3 - 1/2 liều người lớn. Dùng 5 - 7 ngày. Dùng riêng hoặc phối hợp với bồ công anh, kim ngân và ké đầu ngựa. Sài đất nấu với râu ngô làm nước uống hàng ngày vừa mát, lợi tiểu lại vừa phòng được rôm sảy, mụn nhọt, mẩn ngứa. Sài đất với số lượng nhiều, đem phơi khô, Iiấu thành cao lỏng để dành dùng dần.
Ở Trung Quốc, sài đất được dùng chữa bạch hầu, ho gà, viêm họng, viêm amidan. Người ta còn dùng cây Wedelia prostrata Hemsl. (lỗ địa cúc) với các chỉ định giống sài đất. Cây này cũng có ỏ Việt Nam, nhưng chưa được nghiên cứu sử dụng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

SA SÂM NAM-Launaea sarmentosa-chữa ho khan, ho có đờm

SA SÂM NAM


Tên khoa học: 

Launaea sarmentosa (Willd.) Sch.Bip. ex Kuntze; Họ Cúc (Asteraceae).

Tên đồng nghĩa: 

Prenanthes sarmentosaWilldenow, Phytographia, 10. 1794; Launaea pinnatifida Cassini; Microrhynchus sarmentosus (Willdenow) Candolle.

Tên khác: 

Cỏ chân vịt, hải cúc.

Tên nước ngoài: 

Pissenlit maritữne, salade des dunes (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống lâu năm. Rễ mảnh, mềm, màu vàng nhạt. Thân bò dài 20 - 30 cm, bén rễ ở các mấu và mọc chồi thành cây mới. Lá mọc thành hoa thị, phiến hình mác dài 3 - 8 cm, rộng 0,5 - 1,5 cm, chia thùy lông chim không đều, gốc thuôn dần, đầu tù tròn, các thùy to dần về phía đầu lá.
Cụm hoa thưa, mọc ở giữa túm lá thành đầu hình trụ; lá bắc ngoài không đều, lá bắc trong bằng nhau; hoa màu vàng, mào lông màu trắng, tràng hình lưỡi có ống ngắn, 5 răng nhỏ; nhị 5.
Quả bế hình trụ có cạnh và mào lông dễ rụng.
Mùa hoa quả : tháng 4-6.

Phân bố, sinh thái:

Chi LaunaeaCass. gồm một số loài đều là cây thảo, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc châu Á và châu Phi. Ở Việt Nam có 2 loài; loài sa sâm nam chỉ thấy phân bố ở vùng ven biển và các đảo lớn, từ Quảng Ninh, Hải Phòng vào đến Đồng Nai. Cây cũng phân bố ở vùng ven biển phía nam Trung Quốc (đảo Hải Nam), Ân Độ, Ai Cập và một số nơi ở châu Phi.
Sa sâm nam có phần trên mặt đất thường lụi vào mùa đông (ở các tỉnh phía bắc). Toàn bộ phần rễ và gốc sẽ mọc lên chồi mới vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè năm sau. Cây ưa sáng, chịu được mặn; thường mọc trên bãi cát ven biển, thành từng đám hoặc rải rác thành khóm riêng rẽ lẫn với một số loài cây thảo khác như muống biển, cỏ chông, dừa cạn, củ gấu biển... Cây ra hoa quả hàng năm; quả có túm lông thuận lợi cho việc phát tán nhờ gió.

Bộ phận dùng:

Toàn cây (Herba Launaeae Sarmentosae) thu hái vào các tháng 3 - 4 và 8 - 9, rửa sạch bằng nước vo gạo, đồ chín rồi phơi khô. Có nơi thu hái về rửa sạch, ngâm nước phèn chua 1/5 hoặc 2/5, phơi cho se, xông diêm sinh hơn một giờ rồi mới phơi khô. (Đỗ Tất Lợi - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 1999, trang 816).

Tính vị, công năng:

Sa sâm nam có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, vào kinh phế, có tác dụng bổ, mát phổi, giảm ho, long đờm, lợi sữa, nhuận tràng, lợi tiểu.

Công dụng:

Lá sa sâm nam được dùng làm rau ăn sống như rau xà lách hoặc nấu canh.
Toàn cây để tươi được dùng làm thuốc lợi sữa cho người và trâu bò. Ngày 20 - 30g. Toàn cây hoặc lá, giã nát đắp chữa đau khớp phồng rộp do chạm phải con sứa khi tắm biển.
Rễ cây phơi khô sao vàng chữa sốt, háo phổi, ho khan, ho có đờm. Ngày 15 - 20g, sắc uống. Để nhuận tràng, lợi tiểu, có thể dùng rễ dạng sống, không phải sao.

Bài thuốc có sa sâm nam

1. Thuốc bổ mát chữa cảm sốt:

Rễ sa sâm nam, rễ vú bò, hà thủ ô, bạch truật nam, rễ gai, mỗi vị 20g; hoài sơn, rễ sài hồ nam, cam thảo, mỗi vị 12g; trần bì 8g; gừng 4g. Tất cả phơi khô, thái nhỏ, sắc uống làm 2 lần trong ngày. Có thể tán nhỏ, rây lấy bột, trộn với mật ong, làm viên, uống mỗi lần 10 - 20g, ngày 2-3 lần.

2. Chữa viêm phổi, ho đờm, tức ngực:

Rễ sa sâm nam 15g, tía tô 10g, gừng nướng 5 lát, cửu lý hương sao 4g, chè tàu 2g, chanh non 1 quả (thái mỏng sao), sắc uống làm 2 lần trong ngày (kinh nghiệm của Hội y học dân tộc Quảng Nam - Đà Nẵng).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2015

SA SÂM BẮC-Glehnia littoralis-Công dụng cách dùng

SA SÂM BẮC



Tên khọc: 

Glehnia littoralis F.Schmidt ex Miq.; Họ: Hoa tán (Apiaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Cymopterus glaber (A.Gray) Black; Cymopterus littoralisJ.G.Cooper & A.Gray; Phellopterus littoralis (A. Gray) F. Schmidt                       

Tên nước ngoài: 

Coastal glehnia.

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống nhiều năm, cao 20 - 30 cm. Rễ hình trụ dài và nhỏ. Lá kép lông chim, mọc so le, màu lục hơi vàng, các lá chét xẻ 3 thùy hình bầu dục, đầu nhọn, mép khía răng; cuống lá dài có khía rõ và bẹ to, màu tím, có lông mịn.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành tán kép, không có lá bắc to, lá bắc nhỏ 8-12 hình mác thuôn; hoa nhỏ, 15-20 cái, màu trắng ngà.
Quả bế đôi, có cánh và có lông; hạt màu vàng nâu.
Mua hoa quả: tháng 4-6.

Phân bố, sinh thái:

Sa sâm bắc có nguồn gốc ở vùng Đông Á, được trồng khá phổ biến ở Trung Quốc và Nhật Bản. Cây được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam từ đầu những năm 60. Cây trồng ở Trại cây thuốc Sa Pa (Viện Dược liệu) đã thích nghi và ra hoa kết quả; hạt già rơi xuống đất đã nảy mầm một cách lự nhiên. Tuy nhiên, do chưa chú trọng nghiên cứu phát triển, nên gần đây cây đã bị mất giống.

Cách trồng:

Sa sâm bắc ưa đất cao ráo, thoát nước, màu mỡ, tơi xốp, có độ pH 6,5 - 7, thích hợp nhất là mùn núi, có tầng canh tác dày ở những nơi khí hậu mát như Sa Pa, Tam Đảo. Tuy vậy, cây chưa được trồng lớn. Dưới đây xin giới thiệu cách trồng của Trung Quốc để tham khảo.
Cây được nhân giống bằng hạt. Hạt được lấy ở cây 2 năm tuổi. Vào tháng 6 - 7, khi quả chín có màu vàng nâu thì thu về, phơi khô, bảo quản cẩn thận đến tháng 9-10 hoặc tháng 1 - 2 năm sau đem gieo. Trước khi gieo, cần ngâm hạt trong Boóc-đô 0,5 - 0,7% trong 10 phút để phòng trừ nấm bệnh, sau đó vớt ra, rửa sạch, để ráo. Có thể gieo thẳng hoặc gieo trong vườn ưcím, sau đánh cây con đi trồng.
Đất cần cày bừa kỹ, đập nhỏ, lên luống cao 30 - 35cm, rộng 70 - 90 cm.
Mỗi hecta cần bón lót 20 tấn phân chuồng, 200 kg supe lân, 100 kg kali hoặc 300 kg tro thảo mộc. Tốt nhất nên bón phân theo rạch, sâu 5-7 cm, cách nhau 20 cm. Sau đó, gieo hạt, phủ đất dày 2 cm rồi tưới nước. Khi hạt mọc thì tỉa dần, định khoảng cách cuối cùng từ 15 đến 20 cm.
Nếu gieo hạt ở vườn ươm, khi cây con có 3 - 4 lá thật, đánh ra trồng. Cách làm đất, bón phân và khoảng cách trồng giống như gieo thẳng.
Sa sâm trồng 2 năm mới được thu hoạch. Mỗi năm cần bón thúc phân 2 - 3 lần. Năm đầu, lần thứ nhất bón vào lúc cây có 3 - 4 lá thật, lần thứ hai vào tháng 5 - 6 và lần thứ ba vào tháng 7-8. Năm thứ hai bón vào các tháng 2 - 3, 5 - 6 và 7 - 8. Tốt nhất là bón thúc bằng nước phân chuồng, nước giải ngâm kỹ hoặc NPK (1:2) với lượng 100 kg/ha/lần. Ngoài ra, đầu mùa đông thứ nhất, nên bón thêm 10-15 tấn phân chuồng mục.
Sa sâm bắc hay bị bệnh đốm nâu hại lá và hoa, nhất là lúc mưa nhiều, độ ẩm cao. Vì vậy, cần thường xuyên xới xáo, thoát nước kịp thòi để đất luôn tơi xốp, thông thoáng và định kỳ phun Booc-dô 1% dể phòng trừ.
Vào tháng 11-12 năm sau, cây tàn lụi, có thể thu hoạch. Rễ củ thu về cần rũ sạch dất, nhúng vào nước sôi vài phút, bóc vỏ rồi phơi hay sấv khô. Chú ý không nhúng quá lâu, rẻ bị gãy, nhúng quá nhanh, khó bóc vỏ.

Bộ phận dùng:

Rễ (Radix Glehniae).

Thành phần hóa học:

Rễ sa sâm bắc chứa tinh dầu, acid triterpenic, β-sitosterol, polysaccharid, nhiều dẫn chất coumarin: bergapten, xanthotoxol, xanthotoxin, imperatorin, isoimperatorin, psoralen, 8-geranyloxypsoralen, aloiso-imperatorin, marmesin, scopoletin, [8 - (1, 1- dimethylalyl-5-hydroxypsoralen], [7- O - (3, 3- dimethylalyl) scopoletin (Trung dược từ hải I, 1993].
Ở Nhật Bản, sa sâm bắc được phân loại thành 2 typ: lyp N và typ S. Typ N mọc ở phía bắc và chứa hơn 0,1% furocoumarin như imperatorin, isoimperatorin và 8-geranylpsoraien. Typ S mọc ở phía nam chứa dưới 0,1% các hợp chất nói trên. Ngoài ra, cả 2 typ đều có panaxydol.
Tỷ lệ giữa panaxydol và furocoumarin là 0/2 ở typ N và 10/100 ở typ S. (Itoh Akiko và cs, 1997).
Quả chứa phelopterin, dầu béo, acid petroselinic. Quả tươi chứa imperatorin. (Trung dược từ hải I, 1993).

Tác dụng dược lý:

-Tác dụng hạ sốt, giảm đau: Dạng chiết bằng ethanol từ sa sâm bắc trên thỏ bình thường cũng như trên thỏ gây sốt thực nghiệm đều có tác dụng hạ sốt. Trên thỏ gây cảm giác đau bằng phương pháp kích thích điện tủy răng, thuốc có tác dụng giảm đau.
-Tác dụng đối với tim mạch: Dạng chiết nước sa sâm bắc thí nghiệm trên tim ếch cô lập với nồng độ thấp có tác dụng tăng cường co bóp, nồng độ cao ức chế co bóp dẫn đến tim ngừng đập; Nhưng hiện tượng này có thể hồi phục. Đối với tim ếch tại chỗ, thuốc cũng có tác dụng tương tự.
Trên thỏ gây mê, dịch chiết nước sa sâm bắc tiêm tĩnh mạch có tác dụng gây tăng huyết áp, tăng hô hấp. Khi cắt dây thần kinh phế vị, tác dụng trên vẫn tồn tại.
-Tác dụng đối với hệ miễn dịch. Polysaccharid của sa sâm bắc cũng như hydrocortison có tác dụng ức chế miễn dịch.

Tính vị, công năng:

Sa sâm bắc có vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn, vào 2 kinh phế, vị, có tác dụng dưỡng âm, thanh phế, ích vị, sinh tân, khử đờm.

Công dụng:

Sa sâm bắc được dùng chữa phế nhiệt ho khan, ho lâu ngày, lao phổi đờm có máu.
Liều dùng:
Ngày 12 - 20g, dưới dạng nước sắc, cao hoặc viên hoàn. Chú ý: bệnh nhân ho phong hàn, vị hư không được dùng.

Bài thuốc có sa sâm bắc:

1. Chữa hư lao, thổ huyết, nóng sốt, gầy gò, phổi yếu, mạch nhanh, khó thở:

Sa sâm bắc và mạch môn mỗi vị 20g. Sắc nước uống.

2. Chữa âm hư hỏa viêm, ho không có đờm, ho lao, sốt, miệng đắng, khát:

Sa sâm bắc, mạch môn đông, tri mẫu, xuyên bối mẫu, thục địa, miết giáp, địa cốt bì, mỗi vị 120g. Chế thành viên hoàn hoặc dạng cao. Mỗi buổi sáng uống 10g với cháo trắng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật