Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯỢC LIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯỢC LIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

PHƠI SẤY CÂY THUỐC

PHƠI SẤY CÂY THUỐC



1. Những yếu tố làm ảnh hưởng tới việc phơi sấy.

- Tính chất của dược liệu: Những dược liệu thường khác nhau về lượng nước, lượng hoạt chất trong lá, rễ, củ... vì vậy phai có cách phơi sấy cụ thê cho phù hợp với từng loại.
- Độ ẩm của không khí: Tốt nhất là nên phơi sấy cây thuốc trong điều kiện nắng ráo vừa phải, không khí hanh quá nhùng cũng không ẩm ướt quá.
- Nhiệt độ tự nhiên: nhiệt độ phơi sấy tốt nhất là 50-60°C. Không nên dùng nhiệt độ quá cao đê sấy khi dược liệu còn tươi vì như vậy bên trong dược liệu chưa kịp khô để lâu sẽ gây mốc, thối.

2. Các phương pháp phơi sấy cây thuốc.

- Phương pháp phơi nắng là phương pháp phổ biên nhất hiện nay vì nó vừa rẻ tiền, vừa áp dụng được với một số lượng cây lớn. Cách này thường dùng cho những cây lấy rê hoặc lấy thân.
- Phương pháp bốc hơi: Đây là phương pháp áp dụng với những loại cây chỉ cần nhờ nhiệt độ và sự thoáng khí đê bốc hơi và khô dần như cây bạc hà, hương nhu, ngải cứu...
- Phương pháp lò sấy: phương pháp này dùng trong trường hợp sau khi thu hoạch gặp phải thời tiết ẩm hoặc trời mưa. Sau đây là một mô hình lò sấy bằng gạch.
Nguyên liệu xây lò gồm khoảng 1000 viên gạch, 1 tấm tôn lớn, gỗ ván, tôn (hoặc sắt tây, lưới B40...) xi măng, vôi, cát...
Lò sấy được thiết kê là một khối hình hộp. Tường lò xây 2 lần gạch, mỗi lần cách nhau 5cm. ở giữa 2 lớp tường đổ cát hoặc than cách nhiệt sao cho độ dày của tường là 30cm. Một thùng hình hộp cao 1 - 1,5 m và rộng 0,8 - 1m. Cửa lò cao 60cm, rộng 40cm và dày 30cm. Đáy lò phải lót một tấm kim loại để ngăn bụi than và cung cấp nhiệt. Sau lò bố trí một lỗ cung cấp nhiệt. Trong lò bắc 2-3 giàn sấy, mỗi giàn cách nhau 39 - 40cm đê dựng những khay sấy thuốc.

THU HOẠCH CÂY THUỐC

THU HOẠCH CÂY THUỐC



Lưu ý chung khi thu hoạch cây thuốc là phái thu hoạch đúng mùa và đúng tuổi của cây. Thu hoạch quá sớm hoặc quá muộn đều làm ảnh hưởng đên chất lượng của cây. Ví dụ:
+ Cây sâm đại hành khi đang phát triến lá mà lây củ thì củ sẽ non và kém phẩm chất.
+ Cây ích mẫu nêu nở hêt hoa mới thu hoạch thì chất lượng chữa bệnh của cây chỉ còn 50%.

1. Nguyên tắc chung của việc thu hoạch cây thuốc.

+ Những bộ phận trên mặt đất nên thu hoạch vào lúc 8-9 giờ sáng hoặc 3 - 4 giờ chiều vì đây là lúc thòi tiết khô ráo và sương đã tan hết.
+ Những bộ phận dưới mặt đất nên thu hái vào lúc trời ẩm ướt để dễ đào.

2. Các bộ phận được thu hoạch.

- Lá cây: Nên thu hái lá cây khi cây mới ra hoa vì đây là thời điểm toàn thân cây chứa nhiều hoạt chất nhất. Nếu là cây mọc 3 năm thì nên thu hoạch vào năm thứ 2. Thường thu hoạch lá bằng tay.
- Hoa: Thu hoạch lúc hoa chúm chím nở. Không xếp hoa đè lên nhau đê tránh dập nát.
Phần trên mặt đất: hái vào lúc bắt đầu ra hoa.
- Quả: có 2 loại quả là quả mọng và quả khô:
+ Quả mọng phải hái ngay lúc quả mới chín. Nên hái quả vào buôi sáng sớm hoặc chiều mát. Khi thu hoạch phải nhẹ tay, cẩn thận đế quả không bị dập nát.
+ Quả khô nên hái lúc quả chưa khô hẳn vì có những loại quả khi khô hắn vỏ ngoài sẽ tách ra làm mất hạt ở trong.
- Rễ và thân rễ: Thu hoạch vào lúc cuối thu sang đông hoặc đầu mùa xuân vì lúc này cây tập trung nhiêu chất do chưa đâm chồi nảy lộc.
- Hạt: Hạt phải đuợc hái lúc mối khô đê đảm bảo chất lượng
- Vỏ cây: Thu hoạch vào vụ xuân hè vì đây là thời điếm hoạt động mạnh của nhựa cây.

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN CHÚ Ý KHI TRỒNG CÂY THUỐC

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN CHÚ Ý KHI TRỒNG CÂY THUỐC

1. Khí hậu:

Để cây thuốc phát triển tốt cần có đủ 3 yêu tố:

- Ánh sáng:

Đây là một điều kiện rất quan trọng vì ánh sáng giúp cho quá trình quang hợp của cây diễn ra và tạo ra chất hữu cơ đế nuôi cây. Cây thuốc cũng cần ánh sáng nhưng không cần nhiều bằng những loại cây khác, vì vậy vào mùa hè có nhiều nắng cần phải che bớt cho cây.

- Nhiêt độ của đất:

Cây thuốc ưa nhiệt mát, ôn đới nên các cây thuốc thường được gieo vào vụ đông xuân. Mùa hè, nhiệt độ không khí cao làm cho nhiệt độ của đất tăng lên không nên gieo trồng cây vào mùa hè.

- Lượng mưa:

Lượng mùa cần thiết cho cây thuốc phát triển là 2000 mm/năm. Nêu lượng mưa quá cao sẽ làm cho sâu phát sinh, cây bị thối rữa còn lượng mùa quá ít sẽ làm quá trình nảy mầm và phát triển của cây bị ảnh hưởng.

2. Thời vụ gieo trồng:

Cần chọn thời vụ vào thời điểm thời tiết mát mẻ, đất ẩm.

3. Cây giống:

Hiện nay có 2 cách nhân giống cây thuốc là nhân giông vô tính và nhân giống hữu tính.
- Nhân giống hữu tính: thường dùng hạt để giao thu cây con. Cách này có thê được áp dụng vối những cày như ích mẫu, huyền sâm, ngưu tất... Cách này có ưu điểm là chỉ cần trồng 1 năm như cây giống cũng có đủ hạt giống cho cả vụ sau.
Khi thực hiện phương pháp này cần chú ý:
+ Hạt của vụ trước phải gieo ngay vào vụ sau để đảm bảo chất lượng và tỉ lệ nảy mầm của hạt.
+ Không nên phơi hạt giống dưới ánh nắng gắt mà chỉ phơi hạt cìưối ánh nắng yếu để hạt khô dần. Nêu phơi hạt ở nơi nắng gắt sẽ làm chết mầm trong hạt do nhiệt độ quá cao.
- Nhân giống vô tính: Phương pháp này được thực hiện bàng cách dùng thân ngầm, cành, củ, rễ của toàn thân cây thuốc dế nhân giống. Cách này cho kết quả nhanh và có thời gian thu hoạch sớm nhưng nếu đất đai không phù hợp, chăm sóc không tốt thì giống sẽ bị thoái hoá. Khi nhân giống vô tính tốt nhất là cần có thời kỳ phục tráng giống để giữ được phẩm chất tốt. cho cây.

4. Đất đai, Phân bón:

Đất trồng cây tốt nhất, là đất tơi, xốp và có nhiều mùn - đặc biệt là đất phù sa.
Ruộng trồng thuốc cần khoảng 10 - 20 tấn phân chuồng/1 ha. Ngoài ra tuỳ từng giống cây có thế bón thêm phân vô cơ cho thích hợp.

5. Chăm sóc cây:

- Xới xáo, làm cỏ cho cây cần thường xuyên xới xáo và làm cỏ đê cây chóng lớn. Tuy nhiên không nên xới sâu quá vì như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến rễ của cây.
Vun gốc: Vun gốc giúp cho cây vững vàng, không bị long gốc hoặc nghiêng ngả khi có gió. Khi vun gốc cho cây cần lưu ý:
+ Với những cây cho củ như huyền sâm, ngưu tất... phái vun cẩn thận đê tránh làm xây xước lên củ.
+ Những cây lấy lá, hoa, quả... cần xối sâu để rễ cắm chặt xuống đất và vun gốc cho cây mọc vững.
+ Khi tán cây phủ kín mặt luống thì không vun gốc và xáo xới.
- Tỉa cây, giặm cây: Trong một vụ chỉ tỉa hoặc giặm cây 2 - 3 lần, trong đó tỉa cây thường áp dụng cho những cây gieo hạt còn giặm cây dùng vói những cây trồng bằng cành, thân, củ...
Bón thúc cho cây: Thích họp nhất cho các loại thuốc là phân chuồng vì trong phân có đủ các thành phẩn chất bô cho cây. Khi bón cần pha loãng phân với nừốc. Vối phân vô cơ thì bón thúc cho cây như sau:
+ Cây lấy cành, lá nên bón phân đạm.
+ Cây lấy rễ, củ lá nên bón ka li loãng.
+ Cây dùng làm giống nên bón phân lân.
- Tươi tiêu nước:
Ruộng trồng cây thuốc phải có hệ thống tưới tiêu nước tốt và chủ động. Tốt nhất là nên đánh luống trồng cây cho cao, tơi xốp. Nhưng cây đang trong giai đoạn ươm cần lượng nước cao hơn những cây khác, vì vậy tưới cây ngày một lần vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát đê giữ ẩm cho cây. Đôi với cây cho củ thì phương pháp giữ ẩm là cho nước ngập 2/3 luống sau đó tháo hêt nước.
- Bấm hoa tỉa cành: cách này thường áp đụng vối những cây cho củ để tập trung nhiều chất dinh dưỡng nuôi củ.

6. Phòng trừ sâubệnh:

Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh gồm: làm đất kỹ, xử lý giống bằng nước nóng có thể loại trừ nấm bệnh, dùng thuốc hoá học. Khi dùng thuốc hoá học phải lưu ý tới tác dụng của thuốc đối vối cây.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Cây sâm Việt Nam (Panax vietnamensis) nguồn tài nguyên đặc biệt quý hiếm trong chữa bệnh và trong phát triển kinh tế

Cây sâm Việt Nam (Panax vietnamensis) nguồn tài nguyên đặc biệt quý hiếm trong chữa bệnh và trong phát triển kinh tế-Thực trạng và giải pháp

                                                  NGUYỄN BÁ HOẠT Phó Viện trưởng Viện Dược liệu

Hầu hết các loài trong chi Panax L. Họ Araliaceae đều được đánh giá là cây thuốc quý, giá trị kinh tế cao: 4 loài trong chi này đã được nghiên cứu kỹ về hoá học, dược lý lâm sàng và bào chế ra nhiều dạng thuốc phục vụ phòng chữa bệnh, đã và đang được phát triển lớn mang lại nguồn thu hàng trăm triệu đô la/năm cho mỗi quốc gia như: sâm Triều Tiên (Panax ginseng); sâm Mỹ (P. qiuquefolius); sâm Nhật (Panax japonicus) và tam thất (Panax pseudoginseng). Năm 1973, lần đầu tiên phát hiện cây sâm Việt Nam ở núi Ngọc Linh - Kon Tum. Nhiều công trình nghiên cứu về hoá học, dược lý, lâm sàng xác định sâm Việt Nam có giá trị chữa bệnh không thua kém 4 loài sâm trên. Đây là tài nguyên quý về giá trị y tế, đồng thời là đối tượng rất quý cho phát triển kinh tế trên địa bàn vùng cao, vùng sâu, vùng kinh tế đang rất khó khăn của Tầy Nguyên cần phải có thái độ, chính sách thích đáng và kịp thời nhằm nhanh chóng phát triển nguồn tài nguyên này.

I. CÂY SÂM VIỆT NAM (PANAX VIETNAMENSIS) ĐÃ ĐƯỢC XÁC MINH GIÁ TRỊ ĐẶC BIỆT QUÝ TRONG PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH

1. Xác định thành phần hoá học trong sâm Việt Nam

Nhiều tác giả nghiên cứu thành phần hoá học của cây sâm Việt Nam đã công b trên nhiều tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, 4 luận văn tiến sĩ nghiên cứu về thành phần hoá học sâm Việt Nam được bảo vệ ở Ba Lan (2); ở Nhật Bản (2). Từ sâm Việt Nam đã phân lập được 49 saponin, xác định câu trúc 25 saponin và xác định hàm lượng những saponin quan trọng quyết định giá trị của nhân sâm như: ginsenosid Rbl chiếm 2%; ginsenosid Rgl chiếm 1,4%; ginsenosid Rd chiếm 0,87%. Đã xác định hàm lượng saponin toàn phần (quyết định phẩm chất nhân sâm) đạt 12-15% trong đó saponin damaran kiểu ocotillol chiếm hơn 50% saponin toàn phần.
Đã xác định hợp chất đặc trưng của sâm Việt Nam là majonoside R2 có hàm lượng gấp 42 lần sâm Nhật (Panax japonicus var. major). Hợp cht này trong nhân sâm, sâm Mỹ và tam thất không có. Majonoside R2 là một khác biệt lý thú quyết định một s tác dụng dược lý đặc hữu của sâm Việt Nam và đang trở thành mục tiêu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Từ sâm Việt Nam đã phân lập và xác định cu trúc của 7 hợp chất polyacetylen, trong đó 2 hợp cht chủ yếu là panaxynol có hàm lượng 0,0084% và heptadecad có hàm lượng 0,0028%. Hai hợp chât này có trong thành phần của sâm Triều Tiên và đã được chứng minh có tác dụng kháng ung thư. Từ sâm Việt Nam đã xác định được 17 acid béo với hàm lượng 0,53%, trong đó acid linderic và acid limodinic đã được chứng minh có tác dụng chông lão hoá tế bào (antioxydant).

2. Đánh giá phẩm cht sâm Việt Nam qua kết quả nghiên cứu được lý thực nghiệm

Đã có nhiều công trình nghiên cứu tác dụng dược lý của sâm Việt Nam đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh Việt Nam tại trường Đại học Y - Dược Toyama và Đại học Hirosima Nhật Bản đều khẳng định sâm Việt Nam có tác dụng tăng lực, tăng cường hoạt động não bộ và sinh dục, tác dụng sinh thích nghi, tác dụng phòng chống phóng xạ, tác dụng kháng viêm và giảm đau, tác dụng hiệp lực với thuốc hạ đường huyết và hạ cholesterol máu, tác dụng kháng khuẩn đặc biệt trên chủng Streptococcus gây viêm họng. Tác dụng bảo vệ tế bào gan và gia tăng hàm lượng cytochrom P450 trong vi thể gan. Đặc biệt sâm Việt Nam có tác dụng hồi phục các rốì loạn bệnh lý gây bởi stress tâm lý. Như vậy những tác dụng dược lý tiêu biểu của sâm Triều Tiên đã được chứng minh đều có ở sâm Việt Nam tác dụng kháng khuẩn trên bệnh viêm họng, tác dụng antistress tâm lý là những tác dụng đặc hữu của sâm Việt Nam.
Tác dụng dược lý sâm Việt Nam đã được xác minh qua kết quả nghiên cứu lâm sàng thực nghiệm của một số chế phẩm như tinh sâm, viên ngậm... tại Viện Lão khoa Hà Nội, Quân y viện 175 TP. Hồ Chí Minh, Viện điều dưỡng PT. Hồ Chí Minh.
Những kết quả nghiên cứu cơ bản này khẳng định vị trí cây sâm Việt Nam sánh ngang với sâm Triều Tiên - một cây thuốc được coi là “thần dược” của thế giới. Các nước Nga, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên đều có viện chuyên nghiên cứu về cây sâm (Panax ginseng) tiếp tục khám phá những giá trị cao quý của cây thuốc này

II.       HIỆN TRẠNG CÂY SÂM VIỆT NAM, NHỮNG TỒN TẠI CẦN SỚM ĐƯỢC KHẮC PHỤC

Năm 1973 trong khói lửa của chiến tranh, đoàn điều tra dược liệu khu 5 dưới sự lãnh đạo của DS. Đào Kim Long lần đầu tiên đã phát hiện ra một loại sâm (Panax) mọc hoang với mật độ dày đặc trong một vùng phân bố hẹp ở độ cao 2.200m thuộc núi Ngọc Linh huyện Đakto tỉnh Kom Tum. Đoàn thu mẫu thực vật và dược liệu sơ bộ xác định là Trúc tiết nhân sâm Panax articulatus L. và gửi mẫu dược liệu ra miền bắc xác định chất lượng. DS Nguyễn Thơi Nhâm nhận được nguyên liệu đã đưa phân tích đánh giá tại Viện Dược Liệu Hà Nội và viện cây thuốc Poznan Ba Lan. Kết quả ban đầu về hoá học cây sâm Việt Nam hoàn toàn giống sâm Triều Tiên do đó DS Nguyễn Thơi Nhâm đề nghị tên sâm Việt Nam là Panax ginsengvar. K5. Đến năm 1988 GS. Gruvesky và Hà Thị Dung xác định đây là loài mới của khoa học, đặt tên Panax vietnamesis khẳng định một loài đặc hữu của Việt Nam trong chi Panaxhọ Araliaceae. Nhận thức được giá trị của cây sâm Việt Nam nên ngày 14/3/1978 Bộ Y tế đã ra quyết định tổ chức đơn vị nghiên cứu sâm trực thuộc Trường đại học Y Dược thành ph Hồ Chí Minh, đến năm 1985 đổi tên thành Trung tâm nghiên cứu sâm Việt Nam. Năm 1992 sát nhập với phân viện dược liệu, Trung tâm nghiên cứu sâm đổi tên thành Liên hiệp khoa học và sản xuất sâm Việt Nam.Năm 1997 chuyển sang trực thuộc Viện Dược liệu và đổi tên thành Trung tâm nghiên cứu sâm và dược liệu TP. Hồ Chí Minh. Sự phát triển gắn liền với các công trình nghiên cứu khá toàn diện cây sâm Việt Nam.
Sau khi giải phóng miền Nam năm 1976 sở y tế Gia Lai - Kon Tum được UBND tỉnh đồng ý đã tổ chức công ty Dược liệu Ngọc Linh nhằm bảo vệ và phát triển cây Sâm Việt Nam dưới tán rừng tại các vùng phân bố tập chung. Đồng thời tổ chức trồng thâm canh trên đồng ruộng ở độ cao 1.200m. Sau năm 1990 do chuyển đổi tổ chức dẫn tới công ty giải thể kéo theo cây sâm ở Kon Tum bị khai thác kiệt quệ, đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Từ 1995 trở lại đây Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Kon Tum nỗ lực khôi phục và phát triển nhưng tiến triển rất chậm.
Vùng phân bố cây sâm Việt Nam tới 3 xã vùng cao của huyện Trà My, năm 1978 Trạm dược liệu Quảng Nam Đà Nng tổ chức Trạm bảo vệ và phát triển cây sâm Việt Nam tại xã Trà Linh huyện Trà My. Sau khi trạm dược liệu giải thể Trạm trồng sâm Trà Linh vẫn được giữ lại, trực thuộc Công ty Dược liệu Quảng Nam Đà Nấng. Nhưng năm 1988 - 1992 cây sâm của Quảng Nam đứng trước nguy cơ bị khai thác kiệt, Trại trồng sâm có nguy cơ bị giải tán. Khi tách tỉnh sở Y tế Quảng Nam đã quyết tâm bảo tồn trại trồng sâm để có cơ sở khôi phục phát triển. Được UBND tỉnh ủng hộ năm 1998 Sở Y tế đã tổ chức lại Trạm trồng sâm và đổi tên thành Trạm nuôi trồng và phát triển dược liệu Trà Linh. Nhờ củng c tổ chức tăng cường cao nên cây sâm ở Quảng Nam đã được phục hồi và phát triển, sau 5 năm củng c (1995 - 2000) nht là 3 năm tổ chức trạm nuôi trồng và phát triển dược liệu, vườn sâm ở Trà Linh Trà My Quảng Nam phát triển cả về s lượng và chất lượng cây trồng.
Thực trạng cây sâm Việt Nam hiện nay có thể coi là thoát hiểm tuyệt chủng nhờ vườn sâm Trà My đang giữ gần 30 vạn cá thể trên diện tích xp xỉ 3ha dưới tán rừng. Cây sâm được chăm sóc bảo vệ chu đáo, sinh trưởng phát triển tốt cung cấp vài vạn hạt giống 1 năm. Kon Tum cây sâm được lưu giữ trên diện tích gần 1 ha nhưng cây sinh trưởng phát triển kém, du hiệu sâu bệnh phổ biến. Sở KHCN và MT Lâm Đồng đầu tư nghiên cứu đánh giá nhập nội cây sâm Việt Nam. Kết quả bước đầu cây sâm sinh trưởng và phát triển bình thường, đã có một số cây ra hoa kết quả, cây sâm Việt Nam có triển vọng phát triển tại Lâm Đồng.
Trong khi cây sâm Việt Nam còn trong tự nhiên là rt ít, cây sâm trồng trong dân chưa thống kê được, trên thị trường giá củ sâm Việt Nam tăng nhanh từ 2,5 triệu đồng/ kg năm 1997 lên 5 triệu đồng/kg năm 2001 dẫn tới tình trạng lùng sục khai thác sâm quyết liệt. Cây sâm ở Kon Tum đã trở thành “cây vàng” như nhiều người nói, nguy cơ tuyệt chủng vẫn rình rập hàng ngày.
Từ thực tiễn nêu trên chúng ta thy vai trò của công tác tổ chức đối với sự tồn vong của cây sâm Việt Nam là rt lớn. Trước thực trạng đang kêu cứu của cây sâm đặc hữu, cần phải có giải pháp kịp thời nghiêm túc cả về tổ chức và đầu tư mới có thể khôi phục.

III.    NHỮNG ĐỀ NGHỊ V GIẢI PHÁP NHM KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN CÂY SÂM VIỆT NAM

Cần phải trình Bộ KHCN&MT, Bộ Kế hoạch Đầu tư duyệt cho một chương trình nghiên cứu phát triển cây sâm Việt Nam, tạo vùng sản xuất hàng hoá gắn với chiến lược phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường vùng núi cao. Đây là chương trình khoa học - kinh tế - xã hội thực thi trong thời gian 2 nhiệm kỳ 5 năm (10 năm) được chia ra 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Xây dựng hệ thống vường giống hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và chuẩn hoá phẩm chất giống đi từ 2 phương thức: sản xuất giống từ hạt và sản xuất giống invitro. Thời gian từ 3 đến 5 năm đầu yêu cầu phải sản xuâ't được hàng triệu cây giống một năm đủ đáp ứng nhu cầu sản xuấk Mô hình vườn giống quốc doanh của các lâm trường, trạm trại, vườn giống thôn bản, trang trại
Giai đoạn 2: Xây dựng mô hình sản xuất, hoàn thiện kỹ thuật trồng sâm bán tự nhiên và trồng thâm canh trên đất nương rẫy, tạo nên những vùng sản xuất tập trung có sản lượng hàng hoá. Biện pháp kỹ thuật - kinh tế - xã hội được vận dụng chặt chẽ trên cơ sở sản xuất trang trại hộ nông dân dưới sự quản lý và bảo trợ của chính quyền xã, bản. Thời gian của giai đoạn 2 kéo dài 5 năm định hình được một số mô hình để tổng kết nhân rộng.
Giai đoạn 3: Mở rộng mô hình sản xuất và tuyên truyền đào tạo kỹ thuật cho nông dân; Tổng kết nhân rộng mô hình vườn giống sản xuất, trang trại và nồng trại, hộ nông dân trồng sâm. Hoàn thiện các chế độ chính sách cho vùng nguyên liệu cây đặc sản về tín dụng, chính sách đầu tư và thu mua nguyên liệu.
Saú 10 năm có thể tổng kết đề án với những kết quả cụ thể về khoa học, tổ chức sản xuất, chế độ chính sách và tạo được vùng nguyên liệu hàng hóá thực sự trên địa bàn vùng cao.
Thực tế đang đòi hỏi chương trình khoa học công nghệ quốc gia sớm quyết định cho cây sâm Việt Nam một đề án nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên đặc biệt quý của đất nước.

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam tập I, II

Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam 


LỜI NÓI ĐẦU

Nguồn dược liệu Việt Nam rất phong phú và đa dạng, bao gồm thực vật, động vật và khoáng vật. Trong đó, dược liệu từ cây cỏ vần cổ một vị trí quan trọng nhất về thành phần, chủng loại cũng như giá tri sử dụng.
Nước Việt Nam, phần dải liền, trải dài từ 8o30' đến 23o22' vĩ độ Bắc, phía đông và nam giáp biển Đông; tây giáp Lào và Campuchia, bắc giáp Trung Quốc. Diện tích hơn 330.000 km2. Trong đó, đồi núi chiếm gần 4/5. Khối núi cao nhất là Hoàng Liên Sơn, có đỉnh Fansipan 3143m.
Về khí hậu, Việt Nam nằm trong vành đai khí liậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm với nét đặc trưng thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở những vùng đất thấp phía nam đến các đặc điểm mang tính chất cận nhiệt đới ở các vùng núi cao phía bắc.
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và khí hậu nêu trên, đã tạo nên mức độ đa dạng cao về sinh học ở Việt Nam. Theo những nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học, ở Việt Nam có gần 11.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2000 loài tảo. Về động vật, có 224 loài thú, 828 loài chim, 258 loài bò sát và 5500 loài côn trùng... Trong đó nhiều loài được dùng làm thuốc.
Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau. Từ ngàn đời nay, họ đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng nguồn cây cỏ và động vật sẵn có để bổi bổ sức khỏe và làm thuốc phòng chữa bệnh. Song song với quá Irình lịch sử đấu tranh và xây dựng đất nước, vốn y học của cộng đồng này dần dần được tích lũy, hình thành và phát triển thành nền y dược học cổ truyền của dân tộc với đầy đủ cơ sở lý luận và được ghi chép trong nhiều y văn cổ, lưu truyền đến tận ngày nay.
Để kế thừa và phát huy vốn cổ truyền quý báu này, ngay sau ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước đã thiết lập một hệ thống các viện và trường đại học nhằm đi sâu nghiên cứu khai thác tiềm năng về dược liệu trong nước phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho toàn dân và xuất khẩu.
Trải qua nhiều năm điều tra nghiên cứu, tính đến nay ở Việt Nam đã có hơn 3800 loài thực vật bậc cao và bậc thấp (kể cả nấm) dược dùng làm thuốc, khoảng 406 loài động vật làm thuốc. Đa số các loài (cả thực vật và động vật) đều sống hoang dại. Một số cây thuốc quý, được nhập trồng phổ biến ở nhiều địa phương như bạc hà, bạch chỉ, bạch truật, đương quy, huyền sâm, ngưu tất, vân mộc hương, xuyên khung... cũng trở nên quen thuộc.
Rõ ràng, nguồn cây thuốc và động vật làm thuốc là nhóm tài nguyên phong phú và quý giá nhất trong toàn bộ hệ động - thực vật ở Việt Nam.
Ngoài sự phong phú về thành phần chủng loại, nguồn dược liệu Việt Nam còn có giá trị to lớn ở chỗ chúng được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng để chữa nhiều chứng bệnh khác nhau. Cây thuốc hay động vật làm thuốc đều được sử dụng dưới hình thức độc vị hoặc phối hợp với nhau tạo nên các bài thuốc cổ phương, còn tồn tại và thịnh hành đến ngày nay. Ngoài ra, hàng trăm cây thuốc đã được khoa học y - dược hiện đại chứng minh về giá trị chữa bệnh của chúng. Nhiều loại thuốc được chiết xuất từ dược liệu Việl Nam như rutin, D-strophantin, berberin, palmatin, L-tetrahydropalmatin, artemisinin, các sản phẩm từ tinh dầu đã dược sử dụng rộng rãi trong nước, và xuất khẩu. Xu hướng đi sâu nghiên cứu, xác minh các kinh nghiệm của y học cổ truyền và tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để làm thuốc từ dược liệu ngàv càng dược thế giới quan tâm.
Trải qua nhiều thập kỷ nghiên cứu và lích lũy kinh nghiệm, chúng tôi, gồm một số nhà khoa học về y - dược học, hóa học, sinh học, và nông học, đã tiên hành biên soạn bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” này với 1000 loài. Trong đó, 920 cây và 80 động vật được lựa chọn từ hơn 3000 loài cây thuốc và 400 loài động vật làm thuốc đã biết.
Những cây thuốc và động vật làm thuốc được sắp xếp theo thứ tự của bảng chữ cái tên Việt Nam. Mỗi loài được đề cập với các phần hợp lý như: lên gọi, mô tả, phân bố sinh thái, bộ phận dùng, thành phần hóa học, tác dụng dược lý, tính vị công năng, công dụng và các bài thuốc. Một số cây còn có thêm các phần: Cây dễ nhầm lẫn, cách trồng. Các cây thuốc và động vật làm thuốc đều có tranh vẽ kèm theo.
Bộ sách này chứa đựng một khối lượng lớn dữ liệu khoa học toàn diện về dược liệu, đặc biệt là cây thuốc, được tập hợp từ nhiều tạp chí khoa học có uy tín trong nước và trên thế giới. Đã tổng hợp kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong các nền y học cổ truyền của Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á và nhiều nước khác ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh. Đặc biệt, bộ sách cung cấp những thông tin khoa học rất phong phú và cập nhật cho đến những năm gần đây nhất về thành phần hóa học, tác dụng dược lý thực nghiệm và dược lý lâm sàng của cây thuốc.
Thông tin về thực vật có nhiều điểm mới như tập hợp tên địa phương theo từng dân tộc ở miền núi như Tày, Thái, Nùng, Mường, H’Mông, Dao (ở miền Bắc), K’Ho, K’Dong, Ba Na, Vân Kiều (ở miền Nam). Tranh vẽ có tính tỷ mỷ, sinh động, thể hiện một sắc thái mới, phù hợp với chất lượng của những thông tin, tư liệu về cây thuốc và động vật làm thuốc. Phần chống nhầm lẫn giúp việc nhận dạng cây thuốc dễ dàng và chính xác hơn. Những cây thuốc và động vật làm thuốc thuộc diện quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng đã được dặc biệt lưu ý, và đưa vào Sách Đỏ quốc gia để khẩn trương bảo vệ và lưu giữ nguồn gen.
Chúng tôi hy vọng bộ sách này sẽ góp phần gợi mở những hướng mới cho việc nghiên cứu chế tạo thuốc từ nguồn dược liệu trong nước, việc lựa chọn đề tài và xây dựng đề cương các luận văn khoa học, cũng như quy hoạch phát triển nguồn tài nguyên và sản xuất thuốc từ dược liệu. Chúng tôi cũng hy vọng bộ sách sẽ mang lại những thông tin thiết thực và bổ ích giúp bạn đọc kinh nghiệm sử dụng dược liệu trong phòng chữa bệnh ở cộng đồng.
Nhân dịp xuất bản bộ sách này, các lác giả xin chân thành cảm ơn và ghi nhận công lao của KS. TS. Tô Đăng Hải - Giám đốc NXB khoa học và kỹ thuật, người dã chủ động đề xuất, bàn bạc với nhóm tác giả về chủ trương biên soạn bộ sách này từ dầu thập niên trước. Trong quá trình thực hiện, ông rất quantâm đến việc biên soạn, biên tập, đầu tư tài chính, tạo điều kiện cho bộ sách dược ra đời sớm.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Viện Dược liệu đã lạo điều kiện cho việc biên soạn được thuận lợi.
Chúng tôi rất biết ơn PGS. TS, Bộ trưởng Bộ y tế Trần Thị Trung Chiến đã khuyên khích và viết lời giới thiệu cho bộ sách.
Tuy có nhiều cố gắng trong việc biên soạn song cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc, để lần tái bản sau được bổ sung đầy đủ và hoàn thiện hơn.


CÁC TÁC GIẢ

DSCKII. Đỗ Huy Bích: Phần thực vật, toàn bộ phần động vật và danh pháp
TS. Nguyễn Tập: Phần phân bố, sinh thái
TS. Phạm Văn Hiển, KS. Trần Toàn: Phần trồng trọt
GS. Vũ Ngọc Lộ, PGS, TS. Phạm Kim Mãn, PGS. TS. Nguyễn Thượng Dong: Phần bộ phận dùng, chê biến và thành phần hóa học
GS. Đoàn Thị Nhu, PGS Phạm Duy Mai, PGS.TSKH. Đỗ Trung Đàm: Phần dược lý, tính năng, công dụng và bài thuốc
DSCKII. Bùi Xuân Chương: Tranh vẽ. CN. Đặng Quang Chung: Thư ký biên tập

TẬP I: 460 CÂY VÀ 40 ĐỘNG VẬT

TẬP II: 460 CÂY VÀ 40 ĐỘNG VẬT