Hiển thị các bài đăng có nhãn Aristolochiaceae. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Aristolochiaceae. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Loài Phòng kỷ mới Aristolochia cochinchinensis Do ở Bình Phước và Đắc Nông

Loài Phòng kỷ mới Aristolochia cochinchinensis Do ở Bình Phước và Đắc Nông
Tháng 6/2015, tạp chí khoa học Annales Botanici Fennici (số 52, trang 268-273) đã công bố một loài thực vật thuộc chi Phòng kỷ (Aristolochia) họ Mộc hương (Aristolochiaceae) mới cho khoa học được phát hiện tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, Bình Phước và khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng, Đắc Nông Việt Nam. Chi Phòng kỷ Aristolochia có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Các loài trong chi này được sử dụng rộng rãi trong nền y học dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc, ngoài ra, đây cũng là nhóm thực vật quan trọng trong nghiên cứu đồng tiến hóa của sinh giới.
Loài thực vật mới này được một nhóm các nhà thực vật học gồm Đỗ Văn Trường (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Nguyễn Quốc Đạt, Nguyễn Trần Quốc Trung và hai người khác từ Viện Thực vật Dresden – Cộng hòa Liên bang Đức mô tả.

Aristolochia cochinchinensis
Aristolochia cochinchinensis
 Aristolochia cochinchinensis

Aristolochia cochinchinensis (Aristolochiaceae), a new species from southern Vietnam
Truong Van Do1,2,*, Dat Quoc Nguyen3, Trung Quoc Tran Nguyen3, Stefan Wanke1 & Christoph Neinhuis1
1) Institut fur Botanik, Technische Universitat Dresden, Zellescher Weg 20b, D-01062 Dresden, Germany ("Corresponding authors e-mail: dovantruong_bttn@yahoo.com)
2) Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science & Technology 18 Hoang Quoc Viet, Hanoi, Vietnam
3) Southern Institute of Ecology Vietnam Academy of Science & Technology 1 Mac Dinh Chi, Ho Chi Minh, Vietnam
Received 13 June 2014. final version received 29 Jan. 2015, accepted 9 Feb. 2015
Do T.V., Nguyen D.Q., Nguyen T.Q.T, Wanke S. & Neinhuis C. 2015: Aristolochia cochinchinensis (Aristolochiaceae), a new species from southern Vietnam. — Ann. Bot. Fennici 52: 268-273.
Aristolochia cochinchinensis Do (Aristolochiaceae), a new species from southern Vietnam, is described and illustrated. It is characterized by a 6-8 cm long petiole with visible, cylindrical leaf scars, 5-9 flowered cymose inflorescences in clusters of two to four cymes, and a sessile utricle. Information about the distribution, habitat, and phenology as well as a comparison with four morphologically similar species (A. longeracemosa, A. poomae, A. pothieri and A. yalaensis) is provided. Synapomorphic characters such as an abaxially concave perianth and a completely inonosymmetric floral limb with a complete fusion of the tliree sepals into one or two lobes places A. cochinchinensis in subgenus Aristolochia.

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

MÃ ĐẬU LINH KHÁC LÁ-Aristolochia kaempferi

MÃ ĐẬU LINH KHÁC LÁ


Tên khác: Mã đậu linh lá to; Sơn dịch kaempf, Mã đậu linh khác lá, Phòng kỷ, Hán trung phòng kỷ, Thanh mộc hương.
Tên khoa học: Aristolochia kaempferi Willd.; họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae).
Tên đồng nghĩa: Aristolochia chrysops (Stapf) E.Wilson ex Rehder; Aristolochia dabieshanensis C.Y.Cheng & W.Yu; Aristolochia heterophylla Hemsl.; Aristolochia kaempferi f. heterophylla (Hemsl.) S.M.Hwang; Aristolochia kaempferi f. lineata (Duch.) Makino; Aristolochia kaempferi var. longifolia Franch. & Sav.; Aristolochia kaempferi f. longifolia (Franch. & Sav.) Makino; Aristolochia kaempferi f. mirabilis S.M.Hwang; Aristolochia kaempferi var. pallescens Nakai; Aristolochia lineata Duch.; Aristolochia mollis Dunn; Aristolochia neolongifolia J.L.Wu & Z.L.Yang; Hocquartia kaempferi (Willd.) Nakai ex Honda; Isotrema beterophylla (Hemsl.) Stapf; Isotrema chrysops Stapf; Isotrema heterophyllum (Hemsl.) Stapf; Isotrema kaempferi (Willd.) H.Huber; Isotrema lasiops Stapf         
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Dây leo mảnh, thân mảnh, có lông mịn. Lá có phiến bầu dục thuôn, dài 8 - 9cm, rộng 3cm, gốc hình tim có tai, hai mặt có lông mềm, hơi nâu ở mặt trên, vàng ở mặt dưới, gân từ gốc 5; cuống 1,5cm. Hoa 1 - 2 ở nách lá; cuống 1,5cm.. Hoa có cuống dài, có lông; bầu có lông dày trắng, ống có ít hoa. Quả nang, quả dài 5cm, rộng 1,5cm, nở thành, có nhiều hạt.; hạt dẹp, dài 12mm Cây ra hoa tháng 5-6, có quả tháng 7-8.
Bộ phận dùng: Rễ và hạt phơi hay sấy khô của cây mã đậu linh lá khác (Radix et Semen Aristolochiae Kaempferae), thường gọi là Hán trung phòng kỷ.
Phân bố sinh thái: Loài phân bố ở Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở nước ta đã phát hiện được ở núi Lưỡi hái, huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú. Cây sống ở ven suối đá cạn của núi đất lẫn đá.
Thu hái chế biến: Người ta thu hái rễ vào mùa xuân, rửa sạch, thái nhỏ phơi khô dùng. Hạt lấy ở quả già.
Thành phần hóa học: Rễ và thân có dẫn chất phenanthrene (aristoliukine-C, aristofolin-E) và acid aristolochic-Ia methyl ester và one một sesquiterpene (madolin-P).
Tính vị, tác dụng: Vị đắng, cay, tính hàn, có tác dụng lợi thuỷ tiêu thũng, khư phong chỉ thống, giáng huyết áp.
Công dụng: Rễ được dùng ở Trung Quốc để trị thuỷ thũng, lâm bệnh, tiểu tiện khó khăn, phong thấp tê đau, cước khí thấp thũng, hạ bộ thấp sang ung thũng và cao huết áp. Quả cũng được dùng như các loại mã đâu linh khác.
Liều dùng, cách dùng: Ngày dùng 4-12g dạng thuốc sắc. Hạt được dùng trị bệnh đau dạ dày.
Tài liệu dẫn:
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I, Nhà xuất bản Y Học
Wu TS, Leu YL, Chan YY., Constituents from the stem and root of Aristolochia kaempferi., Biol Pharm Bull. 2000 Oct;23(10):1216-9.The Plant List 2013
FOC Vol. 5 Page 261

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

MÃ ĐẬU LINH-Aristolochia kwangsiensis-Chữa viêm dạ dày

MÃ ĐẬU LINH


Tên khác: Cây khố rách, Mã đậu linh quảng tây, Mã đậu linh lá to, Đại diệp mã đậu linh, Viên diệp mã đậu linh.
Tên khoa học: Aristolochia kwangsiensis Chun & F.C.How ex S.Yun Liang; thuộc họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae).
Tên đồng nghĩa: Aristolochia austroszechuanicaS.S.Chien & C.Y.Cheng ex C.Y.Cheng & J.L.Wu   
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây sống nhiều năm, thân leo hoá gỗ, có rễ củ to. Thân non và lá non có nhiều lông. Lá già chỉ có lông ở mặt dưới và ở gân mặt trên. Phiến lá dạng trứng tròn: 23-34 x 22-32 cm; chóp lá tù, gốc lõm dạng tim; có 5 đôi gân bên gần đối xứng nhau; gân mạng nổi rõ ở mặt dưới lá. Cụm hoa có 1-2 hoa ở nách lá. Hoa có cuống; cả cuống và bao hoa cong hình chữ "S"; ống bao hoa xanh nhạt, dài đến 7,5 cm, phần lớn nhất ở chỗ cong có đường kính khoảng 1,4 cm; các thuỳ của ống hình tam giác, mặt tím hồng, mặt trên có các gai nổi màu hồng đậm; họng ống tròn, màu vàng. Nhị 6. Bầu 6 ô; vòi nhuỵ 6. Quả màu nâu vàng, gần hình trụ tròn, dài 8-10 cm, có 6 cạnh lồi, đỉnh có đuôi dài khoảng 3mm. Hạt hình trứng, màu nâu, cỡ 5 x 4 mm, mặt hơi lõm.
Sinh học và sinh thái: Cây ra hoa vào tháng 5, mùa quả tháng 6-9. Cây tái sinh chồi ở thân vào mùa xuân. Chưa rõ khả năng trồng bằng hạt. Cây ưa sáng và có thể chịu bóng; mọc rải rác trên đất lẫn đá, ở rừng thứ sinh, thưa, ở độ cao tới 1000 m.
Phân bố: Loài của Nam Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta cây mọc hoang ở rừng núi, phát hiện ở Lạng Sơn và Hà Giang (Mèo Vạc).
Bộ phận dùng: Rễ đã phơi hay sấy khô của Cây khố rách (Radix  Aristolochiae Kwangsiensis); thường gọi là Mã đậu linh.
Thu hái: Rễ và mùa thu, dùng tươi hay phơi khô.
Thành phần hóa học: Trong rễ có allantoin, acid aristolochic A, β-sitosterol, 6-methoxydenitroaristolochic acid methyl ester, 6-methoxyaristolochic acid A methyl ester và magnoflorine.
Tính vị, tác dụng: Rễ có mùi thơm, có tác dụng giải nhiệt giảm đau, sát trùng, cầm máu.
Công dụng: Chữa viêm dạ dày, ruột, đau họng; dùng ngoài chữa vết thương và nhọt độc. 
Liều dùng, cách dùng: Ngày dùng 4-6g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài, giã rễ tươi đắp hoặc dùng rễ khô tán bột rắc.
Tình trạng: Loài đã từng bị khai thác lấy nguyên liệu làm thuốc. Trong các điểm phân bố trước đây, tại Thạch An (Cao Bằng) nay không còn tìm lại được. Khu phân bố chia cắt xa nhau, bị tàn phá nghiêm trọng.
Phân hạng:EN A1c,d
Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "sẽ nguy cấp" (V). Cần có kế hoạch điều tra, xác định điểm phân bố còn sót lại để bảo vệ. Đồng thời đưa về trồng, nghiên cứu nhân giống để phát triển.
Tài liệu dẫn:
Sách đỏ Việt Nam (2007): 93; STCT: 560-561; TCDL, 6(4): 98; TCSH, 17(4-CĐ): 32.
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I, Nhà xuất bản Y Học
Zhou FX, Liang PY, Qu CJ, Wen J (1981), Studies on the chemical constituents of Aristolochia kwangsiensis Chun et How ex C F Liang; Acta pharmaceutica Sinica 16:8 1981 Aug pg 638-40
The Plant List 2013
FOC Vol. 5 Page 262

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2015

RỄ GIÓ-Aristolochia contorta-Công dụng cách dùng

RỄ GIÓ



Tên khoa học: 

Aristolochia contorta Bunge; Họ : Mộc hương (Aristolochiaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Aristolochia nipponica Makino

Tên khác: 

Bắc mã đâu linh.

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Thân leo nhẵn, dài hàng mét. Rễ hình trụ màu nâu vàng. Lá mọc so le, hình tim, dài 13-18 cm, rộng 10 -14 cm, gốc lõm sâu, đầu nhọn, mép nguyên, mặt trên nhẩn, mặt dưói có nhiểu lông mịn, gân lá kết thành mạng lưới rõ; cuống lá dài 3 - 7 cm.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá, gồm 3-10 hoa; lá bắc màu lục tún; bao hoa hình trụ, hơi cong, dài 3 - 4 cm, gốc phình lên hình cầu, họng có lông, phiến bao hoa chia 2 môi, môi trên thuôn nhọn dài, đầu hơi vặn xoắn, mặt trên xanh nhạt có 3 đường vân màu tím nâu, mặt dưới màu nâu tím, môi dưới có 2 thùy nhỏ; nhị 6, đính quanh vòi nhụy, trên bao phấn có một phần phụ hợp thành vòng; bầu hạ.
Quả nang hình trứng, dài 4 - 6 cm, khi chín nứt làm 6 mảnh từ đầu cuống; hạt hình tam giác, dẹt, mép có cánh.
Mùa hoa quả ; tháng 3-5.

Phân bố, sinh thái:

Chi AristolochiaL. có gần 300 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới; một số ít loài có ở vùng ổn đới ấm. Tuy nhiên, vùng nhiệt đới Nam Mỹ được coi là có mức độ đa dạng cao về thành phần loài của Chi này. Khu vực Đông Nam Á cũng là nơi có số lượng loài lớn ở châu Á : Malaysia, 28 loài; Việt Nam khoảng 15 loài (mẫu đang được lưu trữ ở Viện Dược liệu).
Rễ gió có vùng phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Á, bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc, đảo Đài Loan và cả Việt Nam. Ở Việt Nam, cây mói được phát hiện ở Lạng Sơn, Cao Bằng (?) và Kon Tum (Võ Văn Chi, 1996). Cây ưa ẩm, chịu bóng ở thời kỳ còn nhỏ, sau leo lên các cây bụi khác trở thành ưa sáng. Cây thường mọc ở ven rừng (rừng núi đá vôi), bờ nương rẫy, ở độ cao 350 m trở lên, ra hoa quả hàng năm, mỗi quả chứa nhiều hạt. Hạt có màng mỏng bao quanh, thuận lợi cho việc phân tán nhờ gió.
Rễ gió ở Việt Nam là loài tương đối hiếm gặp. Do đó, cần đưa cây thuốc này vào Danh mục Đỏ để chú ý bảo vệ.

Bộ phận dùng:

Thân cây, quả (Herba Aristolochiae), thường gọi là Thiên tiên đằng.

Thành phần hóa học:

Rễ gió chứa aristolenon, acid 7-methoxyaristolochic A, acid 7 - hydroxyaristolochic A, acid aristoiochic, aristolamid - N - hexosid (Tan Hanggen và cs 1994), 8- desmethoxyaristolactam N - β - D - glucopyranosid, 6 - hydroxy - 8 - desmethoxyaristolactam N - β - glucopyranosid, aristolactain I, aristolactam All (Lee Heum Sook, và cs.), aristolactam N - (6'- trans - β - coumaroyl) - β - D - glucopyranosid, aristolactara - N - β - D - glucopyranosid (Lee Heum Sook, 1992), 4,5 - dioxydehydroassimilobin và lysicamin (Lee Heum Sook, 1990).
Cây rễ gió còn có magnoflorin.

Tác dụng dược lý:

Acid aristolochic A chứa trong rễ gió ức chế một số vi khuẩn gram + gồm tụ cầu, liên cầu, song cầu, Bacillus, Sarcina Mycobacterium ở nồng độ 50 - 200 µg/ml, và ức chế vi khuẩn gram âm và nấm ở nồng độ lớn hơn 200 µg/ml. Chuột nhắt trắng gây nhiễm khuẩn với tụ cầu vàng, phế cầu, hoặc liên cầu tan máu được bảo vệ không bị bệnh khi được tiêm phúc mạc acid aristolochic A với liều 50 µg/kg. Hoạt tính thực bào của đại thực bào ở phúc mạc chuột nhắt trắng điều trị được kích thích một cách rõ rệt.
Chuột nhắt trắng mang u báng sarcom-37 được điều trị với acid aristolochic A tiêm phúc mạc vói liều hàng ngày 1,25 - 5 mg/kg trong 5 ngày có thời gian sống sót kéo dài hơn. Sự phát triển của tế bào sarcom- 37 của chuột nhắt trắng bị ức chế hoàn toàn khi ủ với acid aristolochic A. Điều trị chuột nhắt trắng vói acid aristolochic A với liều tiêm phúc mạc hàng ngày 2,5 - 5 mg/kg trong 3 ngày sau khi cấy dưới da tế bào sarcom-37 có hiệu quả ức chế sự phát triển u 40 - 50%.
Acid aristolochic A cho uống làm giảm số lượng u gây bởi methylcholanthren ở chuột nhắt trắng. Tác dụng chống khối u khi cho uống tốt hơn khi tiêm. Độc tính cấp tính lớn hơn ở giống đực, trong khi ở giống cái, độc tính mạn tính lớn hơn. Vói liểu nhỏ hơn ED50 (1,15 mg/kg), acid aristolochic A có hoạt tính kháng khối u cao hơn ở giống đực so vói ở giống cái; với liều cao hơn, quan sát thấy điều ngược lại. Acid aristolochic A làm tăng sự tiêu thụ oxy phụ thuộc vào liều ở tế bào gan và tế bào đơn nhân lách chuột nhắt trắng. Hoạt tính chuyển hóa của đại thực bào ở phúc mạc chuột lang và của bạch cầu ngưòi cũng tăng lên qua đánh giá lượng oxy tiêu thụ. Acid aristolochic A có hoạt tính kích thích miễn dịch.
Ngược lại với kết quả nêu trên, có tác giả công bố acid aristolochic không kéo dài thời gian sống sót của chuột nhắt trắng mang u, không làm tăng chức năng miễn dịch của hệ thống lưới - nội mô, hoặc hoạt tính thực bào của đại thực bào phúc mạc chuột nhắt trắng. Trị số của LD50ở chuột nhắt trắng là 14,3 mg/kg tiêm phúc mạc, và 48 mg/kg uống. Không thấy có dị thường ở các phủ tạng chuột cống trắng sau khi tiêm phúc mạc < 4 mg/kg/ngày trong 7 ngày. Acid aristolochic A có tác dụng gây đột biến trực tiếp trên các chủng Salmonella typhimurium TA 1537 và TA 100.
Hoạt tính gây ung thư của acid aristolochic A đã được chứng minh trên động vật thí nghiệm, và hoạt tính chống thụ thai được chứag minh trên chuột nhắt trắng cái. Có tác dụng chống làm tổ ở thời kỳ đầu mang thai. Tiêm acid aristolochic A trong màng ối vào thời kỳ giữa mang thai đã gây sẩy thai ở chó và chuột cống trắng.
Magnoflorin chứa trong rễ gió có tác dụng gây hạ huyết áp. Trị số LD50 của magnoflorin tiêm tĩnh mạch cho chuột nhắt trắng là 20 mg/kg. Cho uống với liều gấp 10 lần trong 4 tuần không gây độc.

Công dụng:

Rễ gió còn ít được dùng làm thuốc chữa bệnh ở Việt Nam. Trong y học cổ truyền Trung Quốc, quả chín khô của rễ gió được dùng điều trị bệnh đường hô hấp, ho và hen. Phần trên mặt đất cùa cây phơi khô được dùng làm thuốc lọi tiểu chống phù và làm thuốc tri thấp khớp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật