Hiển thị các bài đăng có nhãn Asteraceae. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Asteraceae. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

SÀI HỒ NAM-Pluchea pteropoda-Công dụng cách dùng

SÀI HỒ NAM



Tên khoa học: 

Pluchea pteropoda Hemsl. ex Hemsl.; Họ: Cúc (Asteraceae).

Tên đồng nghĩa: 

Pluchea leptophylla T.H. Hong & M.Y. Chen

Tên khác: 

Cây lức.

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống lâu năm, cao 40 - 60 cm. Thân hình trụ nhẵn, phân cành nhiều ở gần ngọn, vỏ ngoài màu đỏ nâu. Lá mọc so le, hình bầu dục hoặc hình trứng ngược, dài 3-4 cm, rộng 1-2 cm, gốc thuôn hẹp men theo cuống, đầu tù, mép khía răng, hai mặt nhẵn, phiến dày vò ra có mùi thơm hắc.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành ngù gồm nhiều đầu, đầu gần hình cầu mọc đơn độc hoặc tụ họp 3 - 4 cái, gần như không cuống; lá bắc nhiều, nhẵn; lá bắc trong hẹp dần; hoa màu hồng; mào lông màu trắng bẩn; hoa cái nhiều ở ngoài, có tràng rất hẹp, 4 răng nhỏ; hoa lưỡng tính ít ở giữa có tràng hình trụ, 5 thùy, nhị 5, bao phấn có tai, bầu hơi có tuyến.
Quả bế, hình trụ, có 10 cạnh lồi.
Mùa hoa quả: tháng 5-7.

Phân bố, sinh thái:

Sài hồ nam phân bố chủ yếu ở vùng ven biển nhiệt đới châu Á, từ phía nam Trung Quốc, gồm cả đảo Hải Nam đến Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và một số nước khác ở Đông Nam và Nam Á. Ở Việt Nam, cây cũng chỉ thấy ở các tỉnh vùng ven biển, nhiều nhất ở khu vực miền Trung và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Sài hồ nam thích nghi đặc biệt với các vùng nước lợ; đồng thời cây vẫn có thể sinh trưởng tốt ở vùng nước ngọt hoặc vùng bị nhiễm mặn. Do đó, nơi sống chủ yếu của sài hồ nam thuộc lưu vực các cửa sông, trên bờ các kênh rạch, ven đường đi, bờ ruộng cao ở khu vực ven biển.
Sài hồ nam là cây ưa sáng, thường mọc thành từng khóm riêng lẻ; đôi khi cũng tạo thành quần thể tương đối điển hình dọc theo các bờ kênh mương. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm. Hạt phát tán nhờ gió hoặc theo các dòng nước. Những cây đã trưởng thành có thể chịu được ngập úng một số ngày trong mùa mưa.
Nguồn sài hồ nam mọc tự nhiên ở Việt Nam tương đối dồi dào. Trữ lượng của cây tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, sau đến các tỉnh ven biển Trung Bộ, như Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, Phú Yên. Cây có thể trồng được dễ dàng bằng cành như trồng loài cúc tần.

Bộ phận dùng:

Rễ và lá (Radix et Folium Plucheae Pteropodae).
Rễ thu hái quanh năm, đào về cắt bỏ rễ con, rửa sạch, phơi hay sấy khô. Có thể tẩm rượu hoặc mật ong sao thơm.
Cành mang lá non cũng thu hái quanh năm, dùng tươi, phơi khô hay nấu thành cao.

Thành phần hóa học:

Phần trên mặt đất của sài hồ nam phơi khô, chiết bằng n-hexan chứa các hợp chất triterpenoid: Taraxasteryl acetat (1) và stigmas-5-22-dien-3β-ol (2). Cao chiết bằng n-hexan của rễ lại chứa Hop-17-(21)- en-3β-yl acetat (Đoàn Thanh Tường, Phạm Hoàng Ngọc, Đỗ Như Rạng - Tạp chí hóa học, T. 38. Số 4/2000 trang 1-3).

Tác dụng dược lý:

Các tác giả Lê Minh Xuân, Phạm Thị Bích Thuận (Viện Y học dân tộc) đã nghiên cứu tác dụng dược lý của viên cảm cúm sản xuất từ sài hồ nam và đã có một số nhận xét sau: trên chuột cống trắng gây sốt bằng men bia, viên này dùng với liều 0,3 g/kg thân trọng, làm hạ thân nhiệt 0,2°C sau khi dùng thuốc 3 giờ. Sử dụng viên cảm cúm trên lâm sàng cho 45 bệnh nhân có sốt thì sau khi dùng thuốc 30 phút có 40 bệnh nhân hạ sốt, trong đó có 68,9% trường hợp hạ sốt từ 0,5 đến l,5°C.
Ngoài ra, Lưu Thị Thiên Hương và Phan Văn Minh đã nghiên cứu tác dụng dược lý và hiệu quả điều trị trên lâm sàng của chè giải cảm, trong đó thành phần chủ yếu là lá sài hồ nam và đã kết luận như sau: trên động vật thí nghiệm, chè có tác dụng hạ nhiệt rõ rệt (hạ 0,63°C), kèm theo lợi tiểu, làm tăng nhu động ruột, không có tác dụng lợi mật. Trên lâm sàng, chè có tác dụng hạ sốt kéo dài, lợi tiểu nhẹ, an thần, giảm đau, không ảnh hưởng đến hô hấp và huyết áp.

Tính vị, công năng:

Lá và rễ sài hồ nam có vị mặn, hơi đắng, tính mát, có tác dụng phát tán phong nhiệt, lợi tiểu, điều kinh.

Công dụng:

Sài hồ nam được dùng thay cho sài hồ bắc để chữa sốt, cảm, cúm. Ngày 8 - 20g.

Bài thuốc có sài hồ nam:

1. Chữa sốt cao kèm theo nhức đầu, khát nước:

Rễ sài hồ nam 20g, ngũ gia bì 20g, rau má 16g, lá tre 12g, cam thảo dây 12g, bán hạ 12g sao vàng, gừng tươi 6g. Tất cả phơi khô, sắc với 400 ml còn 100 ml, chia làm 2 lần uống trong ngày trước bữa ăn.

2. Viên cảm cúm của Viện Y học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh:

Mỗi viên có bột lá sài hồ nam 150 mg, cao cùng cây (1:1) 100 mg, bột trần bì 24 mg, bột cam thảo nam 16 mg, bột thủy xương bồ 24 mg, bột lá bạc hà 24 mg, bột mịn phèn phi 20 mg. Ngày uống 2-4 viên, chia làm 2 lần.

3. Chè giải cảm:

Lá sài hồ nam 4 phần, nhân trần 1 phần, bạc hà 1 phần, cam thảo nam 1 phần. Hãm uống như trà.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

SÀI ĐẤT-Công dụng cách dùng

SÀI ĐẤT



Tên khoa học: 

Wedelia calendulacea (L.) Less.; Họ Cúc (Asteraceae).

Tên đồng nghĩa: 

Wedelia chinensis (Osbeck) Merr.; Sphagneticola calendulacea(L.) Pruski

Tên khác: 

Cúc nháp, ngổ núi, húng trám, ngổ đất, tân sa, lỗ địa cúc.

Tên nước ngoài: 

Wédélie de Chine (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống dai, mọc bò, bén rễ ở thân ngầm, sau đứng thẳng, cao 20 - 40 cm. Lá gần như không cuống, mọc đối, hình bầu dục thuôn, gốc và đầu nhọn, dài 1,5-5 cm, rộng 0,8 - 2 cm, hai mặt có lông thô cứng, mép có 3 đôi răng cưa to và nông; lá khi vò ra có mùi thơm như trám.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá và đầu cành thành đầu trên một cán dài 3 - 10 cm, đường kính 1-1,5 cm; lá bắc ngoài gần hình bầu dục, tròn ở đỉnh; không có mào lông; hoa màu vàng; tràng hình lưỡi ở phía ngoài, có đầu bẹt khía 3 răng, ống tràng rất ngắn; tràng hình ống ở phía giữa, có 5 thùy hình bầu dục tù, nhị 5, bao phấn có đỉnh hẹp ở phần gốc, không có tai; bầu hình nêm.
Quả bế.
Mùa hoa quả : tháng 3-5.

Cây dễ nhầm lẫn:

Cỏ mui (Tridax procumbens L.) cùng họ, tên khác là sài lan, sài lông, cúc mui, thu thảo. Cây thảo, sống lâu năm, mọc bò. Lá mọc đối, có nhiều răng nhọn không đều. Hoa màu trắng. Quả bế có nhiều lông. Toàn cây có nhiều lông trắng dày và cứng.

Phân bố, sinh thái:

Chi WedeliaJacq. gồm các loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, chỉ có một số ít loài ở vùng ôn đới ấm. Chi này ở Việt Nam có 5 loài, trong đó 5 loài được dùng làm thuốc (Võ Vãn Chi, 1996), đáng chú ý là cây sài đất.
Sài đất mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi. Cây mọc hoang ở vùng núi thấp hoặc trung du. Điểm phân bố tự nhiên điển hình nhất là ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, ở đây, cây mọc thành đám dày đặc trên đất ẩm sát chân núi đá vôi hoặc ở những bãi đất cao trong thung lũng, xung quanh bị lầy thụt (vùng Tam Cốc, Bích Động). Tuy nhiên, nguồn sài đất được dùng làm thuốc hiện nay chủ yếu do trồng trọt. Cây được trồng rộng rãi ở khắp các tỉnh từ vùng núi đến trung du và đồng bằng, ở vùng núi cao lạnh như ở Sa Pa (Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), Phó Bảng (Hà Giang)... không thấy có sài đất.
Sài đất là cây rất ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng. Có thể trồng sài đất trên cánh đồng hoặc trồng ở vườn, lẫn với các loại cây ăn quả. Cây ra hoa hàng năm. Ở nơi trồng được chiếu sáng đầy đủ, cây có nhiều hoa hơn. Ở Quảng Tây (Trung Quốc), sài đất được trồng thành thảm lớn ở công viên để làm cảnh. Sài đất ra hoa nhiều nhưng tỷ lệ kết quả thấp. Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng khỏe. Từ các mấu của thân ngầm hoặc cành (khi tiếp xúc với mặt đất) đều có thể ra rễ và mọc lên các chồi. Đặc biệt, sau mỗi lần bị cắt, phần thân ngầm và gốc còn lại sẽ nhanh chóng mọc lên các cây chồi mới.

Cách trồng:

Sài đất thích nghi rộng, ưa đất ẩm, nhẹ và nhiều ánh sáng, nhưng không chịu được úng.
Cây được trồng bằng đoạn thân có rễ vào mùa xuân. Đất sau khi làm kỹ, nhặt sạch cỏ, cần lên luống như luống rau cải, đánh thành rạch sâu 10 cm theo chiều ngang hoặc dọc luống, cách nhau 20 - 30 cm. Trộn ít phân chuồng vào rạch rồi đặt hom giống, phủ đất và tưới ẩm. Sau 1,5-2 tháng, cây đã phủ kín luống và có thể thu hoạch. Sau mỗi lần thu hoạch, cần làm cỏ và bón thúc thêm phân.

Bộ phận dùng:

Phần trên mặt đất, thu hái quanh năm, chủ yếu vào mùa hè thu lúc cây đang ra hoa, rửa sạch dùng tươi hay phơi sấy khô.

Thành phần hóa học:

* Nước ép của cây sài đất có dầu màu đen hòa tan 11,2%, chất béo 29,7%, nhựa 44,95%; đường, tanin, saponin, các chất silice, pectin, mucin, lignin và các chất có cellulose. Lá có chất wedelolacton vừa là một flavonoid vừa là coumarin. Ngoài ra, còn có tinh dầu và muối vô cơ. (Võ Văn Chi - Từ điển cây thuốc Việt Nam - 1999).
* Theo tài liệu Trung Quốc, sài đất chứa wedelolacton, dimethyl wedelolacton, nor-wedelic acid và một saponin triterpen tương tự saponin Ro của nhân sâm (Trung dược từ hải IV. 40).
* Govindachari T. R., Premila M. S đã tách được 3 chất saponin có hai dây đường đính vào khung acid oleanolic từ lá sài đất tươi. Cấu trúc của 2 chất được xác định là β-D-glucosyl pyranosyl-3 - O - [O - β - D - xylo pvranosyl) (1 2), β. D-glucuronopyranosyl oleanolat.
(=β-D-glucopyranosyl-3-β0[CO-β-D-xylopyranosyl) (1 -> 2) (β-D-glucuronopyranosyl)] olean- 12 -en - 28 oat) (I).
Chất thứ hai được xác định có cấu trúc tương tự như ginsennosid Ro có trong nhân sâm.
Phân tích sài đất Ấn Độ không thấy có mặt của alkaloid nhưng những nghiên cứu ở Trung Quốc lại thấy có mặt các alkaloid trong cành, lá và hoa sài đất.
Chất isoflavonoid trong lá sài đất có cấu trúc lacton của 5 - 6 dihydroxy - 2 - (2:6 dihydroxy 4 methoxy phenyl). benzofuran-3 carboxylic với hàm lượng 0,05%. Chất này tương tự chất comestrol có tác dụng oestrogen (The Wealth of India, Vol X. p. 568).

Tác dụng dược lý:

Trong ống nghiệm, tác dụng kháng sinh của sài đất rất thấp, tạo vòng vô khuẩa rất bé, đối với
Staphylococcuslà 0,3 cm. Streptococcus 0,1 cm, Bacillus typhi 0,1 cm. Shigella flexneri không có tác dụng. Còn trên lâm sàng, ngược lại sài đất biểu hiện tác dụng kháng sinh và chống viêm rất rõ. Năm 1966, Bệnh xá Ngô Quyền - Hải Phòng đã theo dõi 21 trường hợp viêm nhiễm trùng phần mềm (viêm tấy tỏa lan hay khu trú viêm quầng, áp xe, đầu đanh, phần lớn có sốt) chỉ dùng sài đất giã nát đắp lên chỗ viêm, không cho uống và không dùng một thứ thuốc nào khác, và kết luận tác dụng chống viêm của sài đất rất rõ, với những hiện tượng sưng nóng đỏ đau dần dần biến mất; Sài đất không có tác dụng đối với những trạng thái viêm đã chuyển sang mưng mủ, áp xe hóa.
Theo tài liệu nước ngoài, dạng chiết nước từ sài đất có tác dụng ức chế tế bào u báng Ehrlich.

Tính vị, công năng:

Sài đất có vị ngọt, hơi chua, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa đàm, chỉ khái, lương huyết, chỉ huyết, khư ứ, tiêu thũng.

Công dụng:

Nhân dân ở một số địa phương (Bắc Ninh, Bắc Giang) vẫn dùng cây sài đất ăn sống như rau với thịt, cá. Ở một số nơi khác, sài đất được dùng tắm trị rôm sảy hoặc uống để phòng bệnh sởi, chữa sốt rét. Từ kinh nghiệm điều trị của Bệnh viện Bắc Giang, hiện nay sài đất được sử dụng rộng rãi như một thuốc chống viêm, chống nhiễm khuẩn, tiêu độc chữa viêm tấy, mụn nhọt, bắp chuối, sưng khóp, nhiễm trùng, chốc đầu, sưng vú, apxe, viêm họng. Có địa phương đã dùng sài đất chữa viêm bàng quang với kết quả tốt.
Khi dùng, lấy 50 - 100g sài đất tươi giã nát, hòa thêm nước gạn uống, bã đắp vào chỗ sưng tấy. Nếu dùng sài đất khô thì lấy 20 - 40g sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2-3 lần trong ngày. Trẻ em tùy tuổi uống 1/3 - 1/2 liều người lớn. Dùng 5 - 7 ngày. Dùng riêng hoặc phối hợp với bồ công anh, kim ngân và ké đầu ngựa. Sài đất nấu với râu ngô làm nước uống hàng ngày vừa mát, lợi tiểu lại vừa phòng được rôm sảy, mụn nhọt, mẩn ngứa. Sài đất với số lượng nhiều, đem phơi khô, Iiấu thành cao lỏng để dành dùng dần.
Ở Trung Quốc, sài đất được dùng chữa bạch hầu, ho gà, viêm họng, viêm amidan. Người ta còn dùng cây Wedelia prostrata Hemsl. (lỗ địa cúc) với các chỉ định giống sài đất. Cây này cũng có ỏ Việt Nam, nhưng chưa được nghiên cứu sử dụng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

SA SÂM NAM-Launaea sarmentosa-chữa ho khan, ho có đờm

SA SÂM NAM


Tên khoa học: 

Launaea sarmentosa (Willd.) Sch.Bip. ex Kuntze; Họ Cúc (Asteraceae).

Tên đồng nghĩa: 

Prenanthes sarmentosaWilldenow, Phytographia, 10. 1794; Launaea pinnatifida Cassini; Microrhynchus sarmentosus (Willdenow) Candolle.

Tên khác: 

Cỏ chân vịt, hải cúc.

Tên nước ngoài: 

Pissenlit maritữne, salade des dunes (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống lâu năm. Rễ mảnh, mềm, màu vàng nhạt. Thân bò dài 20 - 30 cm, bén rễ ở các mấu và mọc chồi thành cây mới. Lá mọc thành hoa thị, phiến hình mác dài 3 - 8 cm, rộng 0,5 - 1,5 cm, chia thùy lông chim không đều, gốc thuôn dần, đầu tù tròn, các thùy to dần về phía đầu lá.
Cụm hoa thưa, mọc ở giữa túm lá thành đầu hình trụ; lá bắc ngoài không đều, lá bắc trong bằng nhau; hoa màu vàng, mào lông màu trắng, tràng hình lưỡi có ống ngắn, 5 răng nhỏ; nhị 5.
Quả bế hình trụ có cạnh và mào lông dễ rụng.
Mùa hoa quả : tháng 4-6.

Phân bố, sinh thái:

Chi LaunaeaCass. gồm một số loài đều là cây thảo, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc châu Á và châu Phi. Ở Việt Nam có 2 loài; loài sa sâm nam chỉ thấy phân bố ở vùng ven biển và các đảo lớn, từ Quảng Ninh, Hải Phòng vào đến Đồng Nai. Cây cũng phân bố ở vùng ven biển phía nam Trung Quốc (đảo Hải Nam), Ân Độ, Ai Cập và một số nơi ở châu Phi.
Sa sâm nam có phần trên mặt đất thường lụi vào mùa đông (ở các tỉnh phía bắc). Toàn bộ phần rễ và gốc sẽ mọc lên chồi mới vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè năm sau. Cây ưa sáng, chịu được mặn; thường mọc trên bãi cát ven biển, thành từng đám hoặc rải rác thành khóm riêng rẽ lẫn với một số loài cây thảo khác như muống biển, cỏ chông, dừa cạn, củ gấu biển... Cây ra hoa quả hàng năm; quả có túm lông thuận lợi cho việc phát tán nhờ gió.

Bộ phận dùng:

Toàn cây (Herba Launaeae Sarmentosae) thu hái vào các tháng 3 - 4 và 8 - 9, rửa sạch bằng nước vo gạo, đồ chín rồi phơi khô. Có nơi thu hái về rửa sạch, ngâm nước phèn chua 1/5 hoặc 2/5, phơi cho se, xông diêm sinh hơn một giờ rồi mới phơi khô. (Đỗ Tất Lợi - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 1999, trang 816).

Tính vị, công năng:

Sa sâm nam có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, vào kinh phế, có tác dụng bổ, mát phổi, giảm ho, long đờm, lợi sữa, nhuận tràng, lợi tiểu.

Công dụng:

Lá sa sâm nam được dùng làm rau ăn sống như rau xà lách hoặc nấu canh.
Toàn cây để tươi được dùng làm thuốc lợi sữa cho người và trâu bò. Ngày 20 - 30g. Toàn cây hoặc lá, giã nát đắp chữa đau khớp phồng rộp do chạm phải con sứa khi tắm biển.
Rễ cây phơi khô sao vàng chữa sốt, háo phổi, ho khan, ho có đờm. Ngày 15 - 20g, sắc uống. Để nhuận tràng, lợi tiểu, có thể dùng rễ dạng sống, không phải sao.

Bài thuốc có sa sâm nam

1. Thuốc bổ mát chữa cảm sốt:

Rễ sa sâm nam, rễ vú bò, hà thủ ô, bạch truật nam, rễ gai, mỗi vị 20g; hoài sơn, rễ sài hồ nam, cam thảo, mỗi vị 12g; trần bì 8g; gừng 4g. Tất cả phơi khô, thái nhỏ, sắc uống làm 2 lần trong ngày. Có thể tán nhỏ, rây lấy bột, trộn với mật ong, làm viên, uống mỗi lần 10 - 20g, ngày 2-3 lần.

2. Chữa viêm phổi, ho đờm, tức ngực:

Rễ sa sâm nam 15g, tía tô 10g, gừng nướng 5 lát, cửu lý hương sao 4g, chè tàu 2g, chanh non 1 quả (thái mỏng sao), sắc uống làm 2 lần trong ngày (kinh nghiệm của Hội y học dân tộc Quảng Nam - Đà Nẵng).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

VÂN MỘC HƯƠNG-Saussurea lappa-công dụng cách dùng

VÂN MỘC HƯƠNG



Tên khoa học:

Saussurea lappa Clarke; Họ Cúc (Asteraceae).

Tên đồng nghĩa: 

Aucklandia lappa Decne

Tên khác:

Quảng mộc hương.

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây nhỏ, sống lâu năm. Rễ to mập  vỏ ngoài màu nâu nhạt. Lá rất đa dạng, lá phía gốc, hình ba cạnh tròn, có cuống dài, có dìa nhăn nheo, lá ở ngọn hẹp dần, không cuống, gốc ôm thân, mép hơi uốn lượn, có răng cưa, hai mặt đều có lông, dày hơn ở mặt dưới.
Cụm hoa mọc thành đầu, màu lam tím.
Quả bế, hơi dẹt, màu nâu nhạt, có đốm tím.
Mùa hoa; tháng 7-8; mùa quả: tháng 9 - 10.

Phân bố, sinh thái:

Saussurea DC. là một chi lớn gồm các loài phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm. Châu Á có khoảng 300 loài, châu Âu 9 loài, Bắc Mỹ 1 loài và Australia 1 loài, ở Việt Nam, có 2 loài là cây vân mộc hương và mộc hương núi (S. deltoidea (DC.) C.B. Clark).
Vân mộc hương có nguồn gốc ở vùng núi phía bắc Ấn Độ (Jammu và Kashmir) và Nepal. Cây mọc tự nhiên trên các bãi cỏ trong thung lũng và sưòn núi, ở độ cao từ 1500 - 3300m. Từ thế kỷ 13 cây được nhập vào Trung Quốc và Nhật Bản. Ngay ở Ấn Độ, do khai thác quá nhiều, nên năm 1920, vân mộc hương đã bắt đầu gây trồng. Hiện nay, Trung Quốc là nước trồng nhiều vân mộc hương nhất, rồi đến Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam. Cây được nhập vào Việt Nam từ đầu những năm 70 và được trồng thử ở Sa Pa, sau phát triển ở Bắc Hà (Lào Cai); Sìn Hồ (Lai Châu); Phó Bảng (Hà Giang). Đến năm 1978, Viện Dược liệu đưa cây giống vân mộc hương vào Đà Lạt (Lâm Đồng). Cho đến nay chỉ có Sa Pa là nơi sản xuất vân mộc hương duy nhất ở Việt Nam.
Vân mộc hương là cây ôn đới, thích nghi với điều kiện khí hậu mát và ẩm. Nhiệt độ tối thích cho cây sinh trưởng và phát triển là 14 - 20°C, về mùa đông, cây có thể tồn tại ở mức dưới 0°C. Lượng mưa trung bình năm từ 1100 - 3000 mm. Vân mộc hương ở Sa Pa đã sinh trưởng, phát triển tốt ở nhiệt độ trung bình từ 14 - 15°C; lượng mưa 2800 mm/năm. Cây ưa sáng, sinh trưởng mạnh trong mùa xuân- hè; ra hoa quả nhiều vào cuối mùa thu. Về mùa đông, phần trên mặt đất có thể bị tàn lụi.

Cách trồng:

Vân mộc hương ưa khí hậu lạnh mát, được trồng chủ yếu ở các vùng cao thuộc Lào Cai, Lai Châu và Lâm Đồng.
Cây được nhân giống bằng hạt. Hạt có thể gieo 2 vụ trong một năm. Vụ xuân gieo tháng 2-3, thu hoạch tháng 12 cùng năm. Vụ thu gieo tháng 9-10, thu hoạch vào tháng 12 năm sau. Hạt giống được thu từ cây hai năm: vào tháng 8 - 9, hái quả chín, phơi trong râm cho khô, tách lấy hạt để làm giống.
Phương pháp trồng chủ yếu là gieo thẳng. Trồng cây con, rễ củ phân nhánh nhiều, kém giá trị. Đất trồng cần cày bừa kỹ, để ải, đập nhỏ, lên luống cao 25 - 30 cm, rộng 70cm để trồng 2 hàng. Bổ hốc với khoảng cách 40 x 40 cm, trộn đều phân lót vào hốc vói lượng 20 - 25 tấn phân chuồng mục, 250 kg supe lân, 100 kg kali cho một hecta. Mỗi hốc gieo 3 - 5 hạt. Chú ý tránh để hạt tiếp xúc trực tiếp với phân bằng cách phủ một lớp đất mỏng lên mặt hốc rồi mơí gieo hạt. Gieo xong, phủ đất mỏng, tưới ẩm. Không cần phủ rơm rác vì dễ bị giun đùn mất hạt. Khi cây có 3 - 4 lá thật, cần tỉa bớt, chỉ giữ lại mỗi hốc một cây khoẻ nhất. Cây tỉa ra có thể dùng để giặm hoặc trồng tận dụng sang ruộng mới.
Thường xuyên làm cỏ, giữ ẩm, tỉa bỏ lá già, tưói thúc bằng nước phân chuồng (15 ngày / lần) cho đến khi cây ngừng sinh trưởng. Nếu thu hạt, khi cây ra hoa, cần bón thúc thêm một đợt nữa để nuôi quả.
Vân mộc hương thường bị bệnh đốm nâu lá và lở cổ rễ. Ngoài ra, còn có sâu xám và rệp gây hại.
Củ thu hoạch vào tháng 12, đập sạch đất, phơi hoặc sấy nhẹ đến khô.
Hiện nay, vân mộc hương ra hoa sám, củ nhỏ, cần nghiên cứu thêm để phục tráng giống.

Bộ phận dùng:

Rễ, thu hoạch vào mùa thu - đông, rửa sạch đất, cắt bỏ rễ con và gốc, thân, cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài, cắt thành khúc dài 5 - 10 cm, phơi trong râm hoặc sấy ở nhiệt độ thấp. Để làm thuốc thang, rửa sạch dược liệu, lấy khăn ướt ủ khoảng 2 - 3 giờ cho mềm, bào mỏng, phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp.

Thành phần hoá học:

Rễ vân mộc hương chứa 0,3 - 3,0% tinh dầu, 0,05% saussurin (alkaloid), betulin, stigmasterol, 18% inulin và chất nhựa.
Thành phần chù yếu trong tinh dầu là sesquiterpen lacton gồm dehydrocostus lacton và costusolid với tỷ lệ khoảng 50%, α- và β-cyclocostunolid, alantolacton, isoalantolacton, dihydrodehydrocostus lacton, cynaropicrin, 12 methoxydihydro-dehydrocostuslacton.
Nhiều sesquiterpen khác cũng có mặt là β-costol, elema-1,3, 11 (13)-trien-12-ol, α-costol, β- selinen, β- elemen, elemol, caryophylen, caryophylen oxyd, ar-curcumen, α- selinen, α-costal, g- costal.
Tinh dầu còn có (E) - 9 - isopropyl - 6 - methyl - 5,9 - decadien - 2 - on, phelandren, ionon, myrcen, p. cymen, linalol, humulen, cedren, cedrol, α- và β-costen.
Vân mộc hương còn có các saussureamin A, B, C, D, E 5 - aminosesquiterpen, saussureal, 15 - hydro-xycostuslacton, isodehydrocostus lacton, isozaluzanin C và một lignan glycosid là (-) – massoniresinol - 4” - 0 - β - D - glucopyranosid.
Rễ còn có 20 acid amin và cholamin (Zhou Anỉiuan và cs., 1984)
Lá có taraxasterol (A. Y. leung và cs, 1996; Trung dược chí I, 1993)

Tác dụng được lý:

Cao rễ vân mộc hương có tác dụng ức chế in vitro các chủng vi khuẩn: Staphylococcus aureus, Shigella shigae, Enterococcus faecalis, Escherichia coli, Shigella sonneiPseudomonas aeruginosa. Cao chiết với cồn cao độ có hoạt tính kháng khuẩn mạnh hơn cao chiết với cồn thấp độ. Tinh dầu vân mộc hương có tác dụng kháng khuẩn và tẩy uế mạnh, đặc biệt với liên cầu và tụ cầu khuẩn. Vân mộc hương còn ức chế Salmonella typhi, S. paratyphi. Chuột lang gây nhiễm Trichophyton rubrum được điều trị với chế phẩm thuốc từ vân mộc hương, đã khỏi bệnh sau hai tuần điều trị. Vân mộc hương ức chế in vitro Entamoeba histolytica lấy từ bệnh phẩm.
Tinh dầu vân mộc hương có tác dụng ức chế nhu động ruột, gây thư giãn. Cao toàn phần tinh dầu đã khử lacton và dihydrocostunolid, các phân đoạn lacton và dihydrocostunolid đều ức chế sự co thắt hồi tràng cô lập chuột lang gây bởi acetylcholin, histamin và bari clorid. Vân mộc hương gây trung tiện mạnh. Hầu hết các phân đoạn của tinh dầu đều có tác dụng làm giảm sự co thắt phế quản gây bởi khí dung histamin và acetylcholin trên chuột lang, Saussurin là alkaloid làm giãn cơ trơn, đặc biệt với cơ trơn phế quản và làm dịu cơn hen. Nó gây giãn các tiểu phế quản ở động vật thí nghiêm tương tự như adrenalin, nhưng tác dụng không mạnh bằng adrenalin và xuất hiện chậm hơn, nhưng tồn tại trong thời gian dài hơn. Tác dụng chủ yếu thông qua trung tâm phế vị ở tuỷ sống, tuy tác dụng trực tiếp trên sợi cơ trơn của tiểu phế quản cũng tham gia một phần. Cũng có tác dụng ức chế chung trên những cơ trơn khác.
Trên chuột nhắt trắng gây loét dạ dày bằng cách ngâm chuột trong nước, phân đoạn chiết với aceton của vân mộc hương cho uống có tác dụng chống loét rõ rệt, trong đó phân đoạn costunolid có tác dụng chống loét mạnh nhất. Trên chuột cống trắng, cao aceton vân mộc hương có tác dụng lợi mật đáng kể, trong 5 phân đoạn của cao này, costunolid có tác dụng mạnh nhất. Tinh dầu vân mộc hương được hấp thụ qua đường tiêu hoá, bài tiết một phần qua phổi gây tác dụng long đờm và một phần qua thận gây tác dụng lợi tiểu. Vân mộc hương có tác dụng giảm đau trên chuột nhắt trắng gây cơn quặn đau bằng tiêm phúc mạc dung dịch acid acetic I %. Có tác dụng chống viêm trên chuột cống trắng trong hai mô hình thực nghiệm: gây phù bàn chân với kaolin và gây u hạt thực nghiệm với amian; đồng thòi có hoạt tính gây thu teo tuyến ức chuột cống đực non.
Vân mộc hương có tác dụng hiệp đồng, làm kéo dài thời gian của giấc ngủ gây bởi natri barbital, chứng tỏ dược liệu có tác dụng an thần. LD50 của vân mộc hương trên chuột nhắt trắng bằng đường uống là 327,5 g/ kg thể trọng. Những thành phần bay hơi trong tinh dầu có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương. Hít khói của bột vân mộc hương gây ức chế rõ rệt hệ thần kinh trung ương. Tiêm tinh dầu cho độngvật thí nghiệm gây giãn mạch ở vùng nội tạng và kích thích tuần hoàn. Tinh dầu loại bỏ thành phần lacton có tác dụng giảm huyết áp. Một số phân đoạn lacton từ tinh dầu như lacton toàn phần, costunolid, dihydrocostunolid, và dihydro costus lacton có tác dụng giảm huyết áp yếu hơn. Tinh dầu vân mộc hương còn có tác dụng diệt côn trùng.
Trong nhiều thử nghiệm lâm sàng, nhiều bài thuốc có vân mộc hương phối hợp với các dược liệu khác, đã thể hiện có hiệu quả tốt trong điều trị các chứng bệnh tiêu chảy trẻ em và người lớn, lỵ trực khuẩn và lỵ amíp, viêm đại tràng mạn tính thể co thắt, rối loạn tiêu hoá kéo dài, viêm đại tràng mạn tính thể phân nát có máu, suy nhược thần kinh, đái tháo đường. Vân mộc hướng được cho bệnh nhân đái tháo đường uống với liều hàng ngày 500 mg cho mỗi bệnh nhân dưới dạng nước sắc trong 30 ngày, đã tỏ ra có hiệu lực điều trị đái tháo đường và không gây tác dụng phụ.
Vân mộc hương có tác dụng bảo vệ chống độc lực của nọc rắn, nâng cao tỷ lệ sống hoặc kéo dài thời gian cầm cự cho chuột nhắt trắng được tiêm nọc rắn mang bành. Vân mộc hương có trong thành phần chế phẩm thuốc chữa sỏi mật bào chế từ 6 dược liệu. Thuốc này có tác dụng làm mòn sỏi mật in vitro, và tác dụng lợi mật in vivo trên chuột lang; có tác dụng chống viêm trong các mô hình gây phù bàn chân với caragenin và gây u hạt thực nghiệm với amian trên chuột cống trắng và có tác dụng bảo vệ gan chống lại nhiễm độc gan do carbon tetraclorid. Cao chiết với dung môi hữu cơ của vân mộc hương có hoạt tính gây đột biến ở chủng Salmonella typhimurium TA98.
Cao methanol rễ vân mộc hương ức chế mạnh sự sản sinh yếu tố hoại tử u alpha (TNF - α), một cytokin tiền viêm ở tế bào giống đại thực bào của chuột (tế bào RAW 264.7). Ba sesquiterpen lacton là cynaropicrin, reynosin và santamarin phân lập được từ vân mộc hương có tác dụng ức chế sự sản sinh TNF - α một cách phụ thuộc vào liều. Nồng độ của 3 chất gây ức chế 50% (IC50) sự sản sinh TNF - α là 2,86µg/ml; 21,7µg/ml; 26,2µg/ml, tương ứng. Tuy vậy, việc xử lý với các hợp chất sulfydryl như L - cystein, dithiothreitol, và 2 - mercaptoethanol làm mất tác dụng ức chế của cynaropicrin trên sự sản sinh TNF - α. Như vậy, hoạt chất có tác dụng ức chế chính của vân mộc hương là cynaropicrin và tác dụng ức chế được trung gian qua sự liên kết với nhóm SH của protein đích.
Oxyd nitric và TNF - α là những chất trung gian chính được sản sinh trong các đại thực bào được hoạt hoá, tham gia gây suy năng tuần hoàn kết hợp với sốc nhiễm khuẩn. Một hợp chất sesquiterpen lacton (dehydrocostus lacton) phân lập từ vân mộc hương, ức chế sự sản sinh oxyd nitric trong tế bào RAW 264.7 hoạt hoá bởi lipopolysacharid, bằng cách chặn sự biểu hiện của enzym nitric oxyd synthase có thể gây cảm ứng. Hợp chất này cũng làm giảm TNF - α trong các hệ được hoạt hoá bởi lipopolysacharid in vitro và in vivo. Như vậy, dihydrocostus lacton có thể là đối tượng để phát triển thuốc mới điều trị nhiễm độc máu nội độc tố đi kèm với sự sản sinh quá mức oxyd nitric và TNF - α.
Tính vị, công năng:
Vân mộc hương có vị đắng, cay, tính ấm, vào ba kinh: phế, can và tỳ, có tác dụng hành khí, giảm đau, kiện tỳ, hoà vị, lợi tiêu hoá, lợi tiểu, an thai, trừ đờm, làm săn.
Công dụng:
Vân mộc hương được dùng chữa cảm lạnh khí trệ, đau bụng, đầy bụng, khó tiêu, lỵ, tiêu chảy, nôn mửa, tiểu tiện bế tắc. Còn dùng làm thuốc gây trung tiện, chữa ngộ độc thức ăn, chữa ho, làm an thai (sao với gừng) và chữa sốt rét cơn (sao với gừng và kết hợp với các vị khác). Ngày dùng 3 - 6 g, mài vói ít nước hoặc tán thành bột để uống hoặc 6 - 12 g dưới dạng thuốc sắc. Vân mộc hương cho vào quần áo để phòng nhậy cắn. Để chống hôi nách, lấy bột vân mộc hương xoa vào nách.

Kiêng kỵ:

Không dùng vân mộc hương đối với các chứng bệnh do khí yếu hay huyết hư mà táo.
Trong y học cổ truyền Trung Quốc, vân mộc hương được dùng trị đau tức ở ngực và vùng thượng vị, đau mót trong bệnh lỵ, khó tiêu, chán ăn. Còn được dùng làm thuốc gây ngủ, trừ giun, cầm máu, giải độc và tri rắn và sâu bọ cắn, nhiễm độc thai nghén. Vân mộc hương có trong thành phần bài thuốc chữa ung thư. Ngày uống 3 - 10 g dưới dạng thuốc sắc, rượu thuốc và bột.
Trong y học cổ truyền Ấn Độ, vân mộc hương là thuốc dễ tiêu, gây trung tiện, chữa ho, hen, bệnh tả. Hít khói của bột vân mộc hương gây ức chế hệ thần kinh trung ương, do đó có người hít để thay thế thuốc phiện. Vân mộc hương cũng được dùng làm thuốc diệt côn trùng để bảo quản các hàng dệt bằng len và tơ luạ. Rễ vân mộc hương có trong thành phần bài thuốc cổ truyền Ấn Độ phối hợp với các vị khác chữa bệnh sỏi niệu và bệnh tim. Trong y học cổ truyền Nhật Bản, vân mộc hương điều tậ các bệnh về tiêu hoá, nôn mửa, tiêu chảy, nấc, đau dạ dày, lỵ, đau bụng, đau tim, ngực bụng trướng đau, động thai, ở Triều Tiên, vân mộc hương cũng được dùng để chữa bệnh đường tiêu hoá.

Bài thuốc có vân mộc hương:

1. Chữa tiêy chảy (viên nén Mộc hương):

Mỗi viên có bột vân mộc hương đã xử lý 50 mg, gelotanin 70 mg. Liều uống mỗi lần 6 viên, ngày 3 lần. Trẻ em tuỳ theo tuổi.

2. Chữa tiêu chảy trẻ em do tích trệ thức ăn:

Vân mộc hương, bạch truật, mạch nha, chỉ thực, hoàng liên, sơn tra, trần bì, thần khúc, mỗi vị 12 g; liên kiều, sa nhân, la bạc tử, mỗi vị 8 g. Tán nhỏ, làm viên. Ngày uống 4 - 8g.

3. Chữa lỵ cấp tính:

a) Vân mộc hương 8 g, hoàng liên 20g; khổ sâm, bạch thược, mỗi vị 12g; chỉ xác 8g, cam thảo 4g. Tán bột, làm viên hoàn. Ngày uống 10 - 20 g.
b) Vân mộc hưong 6g, kim ngân hoa 20g; hoàng cầm, hoàng liên, mỗi vị 12g; bạch thược, đương quy, mỗi vị 8g; binh lang, cam thảo, mỗi vị 6g; đại hoàng 4g. Sắc uống ngày một thang.

4. Chữa lỵ mạn tính:

Vân mộc hương, hoàng liên, lượng bằng nhau, tán bột làm viên. Uống ngày 3g.

5. Chữa viêm đại tràng mạn tính thể co thắt, rối loạn tiêu hoá kéo dài:

Vân mộc hương 6g; bạch truật, hoài sơn, ý dĩ, phòng đảng sâm, mỗi vị 12g; phụ tử chế 8g; can khương, chỉ thực, thương truật, mỗi vị 6g; xuyên tiêu, nhục quế, mỗi vị 4g. sắc uống ngày một thang.

6. Chữa viêm đại tràng mạn tính do amip có cơ tái phát cấp diễn:

Vân mộc hương 8g; bạch truật, phòng đảng sâm, ý dĩ, mỗi vị 12g; hoàng bá, hoàng liên, uất kim, xuyên khung, mỗi vị 8g; chỉ thực 6g. Sắc uống ngày một thang.

7. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng:

Vân mộc hương 6g; đương quy, bạch thược, phục linh, kỷ tử, đại táo, mỗi vị 12g; xuyên khung 10g; a giao, táo nhân, mỗi vị 8g; ngũ vị tử, trần bì, mỗi vị 6g; gừng 2g. Sắc uống ngày một thang.

8. Chữa xơ gan:

Vân mộc hương 6g, ý dĩ 16g; phụ tử chế, bạch truật, trạch tả, hoài sơn, xa tiền tử, mỗi vị 12g; chỉ xác 6g; nhục quế, kê nội kim, mỗi vị 4g. sắc uống ngày một thang.

9. Chữa viêm cầu thận cấp tính:

Vân mộc hương, thanh bì, mỗi vị 10g; cam toại, nguyên hoa, đại kích, hắc sửu, trần bì, tân lang, mỗi vị 6g. Tán bột, uống mỗi ngày 4 - 6g.

10. Chữa viêm cầu thận mạn tính:

Vân mộc hương 8g, phục linh 16g, bạch truật 12g; phụ tử chế, hậu phác, thảo quả, đại phúc bì, mộc qua, mỗi vị 8g; can khương, cam thảo, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.

11. Chữa suy nhược cơ thể:

Vân mộc hương 6g, bán hạ chế 8g; trần bì, sa nhân, mỗi vị 6g. Tán bột uống mỗi ngày 20g, hoặc sắc uống ngày một thang.

12. Chữa viêm khớp cấp có kèm theo thấp tim;

Vân mộc hương 6g; bạch truật, đảng sâm, ý dĩ, trạch tả, kim ngân, thổ phục linh, mỗi vị 16g; xuyên khung, ngưu tất, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

13. Chữa thiếu máu:

Vân mộc hương 6g; đảng sâm, bạch truật, mỗi vị 16g; hoàng kỳ, long nhãn, thục địa, bạch thược, kỷ tử, đại táo, mỗi vị 12g; viễn chí, táo nhân, phục linh, mỗi vị 8g; đương quy 6g. sắc uống ngày một thang.

14. Chữa suy nhược và rối loạn thần kinh tim, chậm kinh:

Vân mộc hương 6g, đảng sâm 16g; hoàng kỳ, bạch truât, đương quy, long nhãn, đai táo, mỗi vi 12g; viễn chí, táo nhân, phục thần, mỗi vị 8g. sắc uống ngày một thang.

15. Chữa viêm tụy cấp tính (Bài thuốc Trung Quốc):

Vân mộc hương 12g; sài hồ, bạch thược, đại hoàng, mỗi vị 20g; hoàng cầm, diên hồ sách, hoàng liên, mang tiêu, mỗi vị 12g. sắc uống ngày một thang.

16. Chữa đau lưng, đau bụng ở bệnh nhân cố sỏi niệu:

Vân mộc hương 12g, ô dược 20g. Sắc uống ngày một thang.

17. Chữa co giật trẻ em do nhiễm độc não bởi các bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hoá:

Vân mộc hương 8g, bạch đầu ông 16g; hoàng bá, hoàng liên, trần bì, câu đằng, mỗi vị 12g; hậu phác 8g. Sắc uống ngày một thang.

18. Chữa viêm phần phụ thể khí trệ, huyết ứ:

Vân mộc hương 10g; ý dĩ 16g; bồ công anh, kim ngân hoa, trần bì, mỗi vị 12g; huyền hồ 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

19. Chữa bế kinh:

Vân mộc hương 6g; phục linh, nga truật, hương phụ, xuyên khung, mỗi vị 8g; trần bì, bán hạ chế, thương truật, mỗi vị 6g; cam thảo, binh lang, mỗi vị 4g. Tán nhỏ, ngày uống 16 - 20g.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

TỬ UYỂN cây thuốc chữa ho

TỬ UYỂN



Tên khoa học: 

Aster tataricus L. f.; Họ: Cúc (Asteraceae).

Tên khác: 

Thanh uyển, dã ngưu bàng.

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, sống lâu năm, cao 1 - 1,2 m. Thân mọc thẳng, có lông thưa, phân cành nhiều. Lá phía gốc tụ tập như kiểu mọc vòng, phiến dày hình bầu dục thuôn, dài 20 - 40 cm, rộng 6-12 cm, gốc thuôn hẹp, đầu hơi nhọn hoặc tù, hai mặt có lông dày, mép khía răng nhỏ; cuống lá dài có rìa; lá phía trên mọc so le, nhỏ hẹp hơn và gần như không cuống.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân gồm nhiều đầu; hoa hình thìa ở xung quanh, màu đỏ tím; hoa hình ống ở giữa, màu vàng.
Quả nang, hơi dẹt, màu nâu tím, có lông.
Mùa hoa : tháng 9-11.

Phân bố, sinh thái:

Chi AsterL. gồm những loài đều là cây thảo, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm bắc bán cầu, một số loài ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới châu Á và châu Mỹ. Ở Việt Nam, chi này có 3 - 4 loài, phân bố tập trung ở các tỉnh phía bắc, trong đó có 3 loài được gọi là "tử uyển" và dùng làm thuốc như ;
- Aster ageratoides Turcz., phân bố chủ yếu ở vùng núi cao giáp biên giới với Trung Quốc, như Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn ... (Võ Văn Chi, 1997).
- Aster tataricus L. f. và Aster trinervusRoxb., phân bố ở Cao Bằng, Lạng Sơn (A. Pételot, 1952).
Tử uyển là cây ưa khí hậu ấm mát của vùng nhiệt đới núi cao, có độ cao từ 600 đến 1600 m, thường mọc lẫn với các loại cây bụi nhỏ, cây thảo khác ở ven rừng, ven đường đi, trong các trảng cỏ hoặc đồi cây bụi. Cây ra hoa vào vụ thu đông; hoa nở dần từ dưới lên trên và từ ngoài vào trong. Khi quả già, phần trên mặt đất tàn lụi. Hạt có mào lông, phát tán nhò gió, tái sinh tự nhiên tốt. Trồng dễ dàng bằng hạt.

Bộ phận dùng:

Rễ đào về rửa sạch đất cát, phơi hoặc sấy khô (Radix Asteris), rồi bào chế dưới các dạng sau :
- Tử uyển phiến: Rễ rửa sạch để ráo nước, thái phiến dài 3 - 5 cm, dày 1-3 mm, phơi hoặc sấy khô.
- Tử uyển sao: Tử uyển phiến sao nhỏ lửa đến màu vàng đậm hoặc hơi cháy.
- Tử uyển sao cám (tử uyển phiến 10 kg, cám gạo 3 kg): Đun chảo cho nóng, cho cám vào đảo đều khi bốc khói rồi cho tử uyển phiến vào, đảo đều cho có màu vàng, mùi thơm; rây bỏ cám.
- Tử uyển chích mật ong (tử uyển phiến 10 kg mật ong 2 kg): Đun mật ong trộn đều với tử uyển phiến, ủ 30 phút cho ngấm đều. Dùng lửa nhỏ sao đến khi có màu vàng. Cũng có thể đem mật hòa loãng, đun sôi rồi cho tử uyển phiến vào đảo đều, sao đến khi có màu vàng, sờ không dính tay là được.
- Tử uyển chưng: Lấy tử uyển phiến cho vào thùng gỗ chưng cách thủy 30 phút đến 1 giờ, lấy ra phơi khô.

Thành phần hóa học:

Từ rễ tử uyển, Nagao Tsuneatsu và Okabe Hikaru đã tách được 2 chất monoterpen glycosid là shionosid A và B với cấu trúc là β - D - apiofuranosyl - (1 -> 6) - β - D - glucopyranosid và α. L. rhamnopyranosyl (1 -> 6) β - D - glucopyranosid của L. endo - camphanol - [(IR, 2R, 4S) - 3 - 3 - dimethyl - bicyclo - [2,2,1] hept - 2 - yl - methanol.
Cheng Dongliany, Shao Yu đã xác định cấu trúc của shio nosid c tách từ rễ là L. endocamphanol - 8 - o - 3,5; isopropyliden - β - D. apiofuranosyl - (1 -> 6) β - glucopyranosid.
Các Aster saponin A, B, C, D, F, F1 G (thuộc loại olean).
Cheng Dongliang; Shao Yu tách từ rễ chất astersaponin G có cấu trúc là : 3 - O - [αL arabinopyranosyl - (1 -> 6) - β - D. glucopyranosyl] (2β, 3β, 16α) trihydroxy olean - 12 - en. 28 oic acid (acid asterogenic) 28 - O - (β - D - xylopyranosyl - (1 -> 4) α rhamnopyranosyl - (1 -> 2) β - D- xylopyranosyl ester.
Năm chất astersaponin loại acid echynocystic và glucuronid Ha Hb Hc Hd He và foetidissimosid A (Kireng eshomassaponin I) đã được chiết từ phần trên mặt đất của tử uyển. Các saponin này có một cấu trúc prosapogenin chung là acid echynocystic 3 - O - glucopyranosiduronic acid, chỉ khác nhau ở dây nối đường nối với C28.
Astersaponin Ha là - 28 - [α, L. arabinopyranosyl]- ester.
. Hb là - 28 [- O - α - L. rhamnopyranosyl (1 -> 2)] α. L. arabinopyranosyl] ester.
. Hc là - 28 - [- O - β - D. xylopyranon (1 -> 3) - α. L arabinopyranosyl] ester.
. Hd là 28 - [O - β - D. xylopyranosyl (1 ->• 3) - O - β - D. xylopyranosyl - (1 4) - O - L - rhamnopyranosyl (1 -> 2) - α - L - arabinopyranosyl] ester.
. He là 28 [O - β - xylopyranosyl (l->3)-O-β- D xylopyranosyl - (l->4)-O-β-D - apiofuranosyl
- (1 -> 3) [O.α. L. rhamnopyranosyl (1 -> 2) α. L. arabinopyranosyl ester của prosapogenin.
Morita H, Nagashima S, trong quá trình nghiên cứu các hợp chất chống u từ cây cỏ, đã phát hiện các peptid trong rễ tử uyển có hoạt tính chống u đáng kể, đã tách và tinh chế các astin A J với cấu trúc là những pentapeptid vòng có chứa một hoặc hai nguyên tố clo trong phân tử.
Cheng Dong Liang, Shao Yu đã chiết và xác định nhóm chất oligopeptid là asterin A, B, C
Theo trung dược từ hải, rễ tử uyển còn chứa shionon, epifriedelinol, endocamphanol foetidissimosid A; kirengeshomasaponin I; L. endo - 8 - O - 3 -5 - isopropyliden - β - D - apio furanosyl (1 -> 6) β - D - glucopyranosid, asterin và 9 cyclo chlorotin
Shirota Osamu; Morita Hiroshi đã tách và xác định epifriedelinol có tác dụng độc với tế bào (cytotoxic).
Trong rễ tử uyển còn có chứa quercetin.

Tác dụng dược lý:

1. Tác dụng lợi đờm, chống ho:

Thí nghiệm trên thỏ gây mê dùng phương pháp theo dõi sự phân tiết phenolsulfonphthalein ở đường hô hấp, nước sắc tử uyển có tác dụng lợi đờm rõ rệt và kéo dài 4 giờ. Trên chuột cống trắng, dạng chiết của tử uyển dùng bằng đường uống cũng có tác dụng tăng cường sự phân tiết của khí phế quản. Thí nghiệm trên mèo gây ho bằng phương pháp tiêm dung dịch iôt vào lồng ngực phải, dạng nước sắc tử uyển dùng bằng đường uống không có tác dụng giảm ho, nhưng thí nghiệm trên chuột nhắt trắng gây ho bằng phương pháp phun xông amoniac lại có tác dụng giảm ho rõ rệt.

2. Tác dụng kháng khuẩn:

Thí nghiệm trên ống kính, tử uyển có tác dụng ức chế các chủng Escherichia coli, Shigella dysenteriae, Salmonella typhi, Salmonella paratyphi, Bacillus pyocyaneusVibrio cholerae.

3. Tác dụng chống ung thư:

Các thành phần chiết được từ tử uyển như astin A, astin B với liều 0,5 mg/kg và astin C với liều 5 mg/kg đối với tế bào sarcom 180 trên chuột nhắt trắng, có tác dụng ức chế rõ rệt. Chất epifriedelinol đối với u báng Erhlich có tác dụng ức chế nhất định.

Tính vị, công năng:

Tử uyển có vị đắng, cay, tính ôn, vào các kinh phế, tâm, có tác dụng tán hàn, nhuận phế, hóa đòm, chỉ khái, hạ khí.

Công dụng:

Trong y học cổ truyền, tử uyển được dùng chữa hen, khí suyễn, ho nhiều đờm, ho nôn ra máu mủ, đau họng, viêm phế quản cấp và mạn tính, tiểu tiện bất lợi. Ngày 6 - 12g, dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Chú ý bệnh nhân có thực nhiệt không nên dùng.
Tử uyển thường dùng phối hợp với quất hồng bì để chữa ho có đờm; với khoản đông hoa chữa ho nhiều, viêm phế quản mạn tính; với thông thảo, phục linh chữa tiểu tiện bất lợi, đái ít nước tiểu đỏ; với xuyên bối mẫu, tri mẫu, a giao chữa phế âm bất túc, ho có đờm máu; với cát cánh, cam thảo, hạnh nhân chữa ho do phong hàn, viêm họng.

Bài thuốc có tử uyển:

1. Chữa ho lâu ngày, đờm rãi tắc ở họng hoặc đờm có mấu:

Tử uyển 9g, tiền hồ 6g, kinh giới 6g, bách bộ 6g, bạch tiền 6g, cát cánh 3g, cam thảo 3g. Sắc nước uống.

2. Chữa trẻ em ho không ra tiếng:

Tử uyển và hạnh nhân, 2 vị bằng nhau, tán nhỏ trộn với mật chế thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 3-4 viên, chia làm nhiều lần.

3. Chữa trẻ em ho, có tiếng khò khè trong cổ, thở khó:

Tử uyển 30g; hạnh nhân (bỏ vỏ), tế tân, khoản đông hoa, mỗi vị 0,3g. Tất cả nghiền thành bột, mỗi lần uống 1g với nước cháo loãng. Ngày 2 - 31ần.

4. Chữa chứng hư lao, ho, đờm có máu mủ:

Tử uyển, nhân sâm, tri mẫu, bối mẫu, cát cánh, cam thảo (hoặc ngũ vị tử, hoặc phục linh, a giao). Mỗi vị dùng với liều thích hợp. Sắc nước uống.

5. Chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng nhiều:

Tử uyển, hồng hoa, nga truật, quế chi (bỏ vỏ thô) hương phụ (sao giấm), các vị lượng bằng nhau, phơi khô, tán nhỏ, rây bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g với ít rượu (Nam dược thần hiệu).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật