Hiển thị các bài đăng có nhãn Moraceae. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Moraceae. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

RUỐI LEO-Alchornea scandens-Công dụng cách dùng

RUỐI LEO



Tên khoa học: 

Alchornea scandens (Lour.) Müll.Arg. Họ Dâu tằm (Moraceae).

Tên đồng nghĩa: 

Caturus scandens Lour.; Malaisia scandens (Lour.) Planch.; Malaisia tortuosa Blanco; Trophis scandens (Lour.) Hook. & Arn.         

Tên khác: 

Ruối dây, ruối nàng.

Đăc điểm thực vật  (Mô tả):

Cây leo, dài 8 m hay hơn, có nhựa mủ trắng. Cành mảnh, màu nâu, có lỗ bì. Lá mọc so le, hình bầu dục dài hoặc trứng thuôn, dài 7 - 11 cm, rộng 3 - 4 cm, gốc tròn hoặc hơi hình tim, đầu có mũi nhọn, mép nguyên hoặc khía răng rất nhỏ, hai mặt nhẵn, mặt trên bóng, gân lá hình mạng nổi rất rõ ở mặt dưới; cuống lá có ít lông.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá, đực và cái riêng; cụm hoa đực là đuôi sóc hơi có lông, lá bắc ngắn, hoa xếp dày đặc lông, đài 3 răng màu trắng nhạt, cánh hoa 0, nhị 3, bao phấn hình cầu, trung đới lồi lên thành tuyến; cụm hoa cái hình trứng có cuống, hoa hình cầu xếp lẫn với lá bắc, dài hợp, bầu hình cầu.
Quả phức, hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 8mm, vỏ mỏng, dễ vỡ.
Mùa hoa: tháng 6-9.

Phân bố, sinh thái:

Chi AlchorneaBrowne chỉ có một loài ruối leo ở Việt Nam. Cây phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới châu Á, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Trung Quốc, New Caledoni, Nam Trung Quốc và Australia.
Ở Việt Nam, ruối leo phân bố rải rác khắp các tỉnh từ vùng núi có độ cao khoảng 600 m đến vùng trung du và đồng bằng. Cây chịu bóng và có thể hơi ưa sáng, thường mọc dựa hoặc leo trong các lùm bụi ở ven rừng thứ sinh, đồi, bờ nương rẫy và quanh làng bản. Cây có lá xanh quanh năm, ra hoa vào mùa hè, hoa đực và hoa cái riêng, thụ phấn nhờ côn trùng, gieo giống tự nhiên chủ yếu từ hạt. Ruối leo có khả năng tái sinh khỏe từ những phần còn lại sau khi bị chặt.

Bộ phận dùng:

Lá.

Công dụng:

Theo kinh nghiệm dân gian, lá ruối leo phơi khô, sao qua cho thơm, rồi sắc uống dùng cho phụ nữ sau khi đẻ bị suy nhược, mệt mỏi, kém ăn, ăn không tiêu.

Bài thuốc có ruối leo:

Chữa hen suyễn, bụng đầy chướng, đại tiện bí, sản hậu (Nam dược thần hiệu) :

Lá ruối leo, rễ bướm bạc, mỗi vị 4 g; củ gấu, chỉ xác, mỗi vị 3 g (sao); hạt tía tô 2 g (sao); trần bì (bỏ màng trắng) 2 g; gừng sống 3 lát. sắc uống làm một lần vào lức sáng sớm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

RUỐI-Streblus asper-Công dụng cách dùng

RUỐI



Tên khoa học: 

Streblus asper Lour.; Họ ; Dâu tằm (Moraceae).

Tên khác: 

Duối, hoàng anh mộc, mạy xói (Tày).

Tên nước ngoài: 

Siamese rough - bush (Anh).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây nhỏ, dạng bụi, cao 4 - 5 m. Thân và cành hình trụ, khúc khuỷu, vỏ sần sùi, màu xám, chứa nhựa mủ trắng. Cành non mảnh có lông tơ. Lá mộc so le, hình trái xoan, cứng, dài 3-7 cm, rộng 1,2 - 3,5 cm, gốc thuôn tròn hoặc hơi hình tim, đầu tù hơi nhọn, mép khía răng, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm, mặt dưới rất nháp, gân nổi rõ; lá kèm hình tam giác; cuống rất ngắn có lông.
Hoa đơn tính, khác gốc; cụm hoa đực hình đầu, mang 10-12 hoa xếp rất sít nhau; hoa có 4 lá đài đính ở gốc và có lông, nhị 4, xếp đối diện với lá đài; hoa cái mọc đơn độc, đài có 4 răng bao kín bầu nhẵn.
Quả mọng, hình cầu hơi dẹt, màu vàng, có đài tồn tại; hạt hình cầu.
Mùa hoa quả : tháng 6-11.

Phân bố, sinh thái:

Streblus Lour, là chi tương đối điển hình ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Đại Dương và có thể cả châu Phi. Ở Việt Nam, có 9 loài (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Ruối có vùng phân bố tương đối rộng, bao gồm phía nam Trung Quốc, Ấn Độ, và hầu hết các nước khác ở vùng Đông Nam Á. Cây cũng phân bố tương đối phổ biến ở Việt Nam, từ vùng núi thấp khoảng 500 m trở xuống đến tất cả các tỉnh ở vùng trung du và đồng bằng. Cây mọc tự nhiên thường thấy ở đồi, bờ nương rẫy hay trong các lùm bụi quanh làng. Ruối còn được trồng ở khắp nơi để làm hàng rào hoặc làm cảnh. Do khả năng tái sinh cây chồi khỏe, đặc biệt là có thể mọc ra nhiều chồi trên những cành còn lại sau khi bị cắt, nên người ta dễ dàng tạo dáng cho cây.
Ruối là cây ưa sáng và chịu hạn tốt, ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chu yếu từ hạt. Cành bánh tẻ và cây chồi rễ thường được sử dụng để nhân trồng.

Bộ phận dùng:

Vỏ rễ, vỏ thân, lá, nhựa mủ.

Thành phần hóa học:

Ruối chứa asperosid và streblosid (Singh Som N. và cs.). Ngoài ra còn có một pregnan glycosid gọi là siorasid (3β, 14β-dihydropregn-20-on-3-O-β-D (3-O-methyl)-glucopyranosid (Prakash Kamal và cs.).
Theo Chawia A. s và cs., 1990, phần trên mặt đất của cây ruối chứa n-triacontan, tetracontan-3-on, β-sitosterol, stigmasterol, betulin và acid oleanolic.
Rễ cây ruối chứa α-amyrin-3-O-α- L-rhamnopyranosyl-β-D-arabinofuranosid (Chaturvedi s. K. và cs.).
Abu Bakar và cs., 1993 đã phân lập được một proteinase từ cây ruối.

Tác dụng dược lý:

Cả cây ruối trừ rễ có tác dụng ức chế sự phát triển của carcinom dạng biểu bì của mũi-họng người trong nuôi cấy mô. Thử nghiệm lâm sàng ban đầu trên 296 bệnh nhân có bệnh giun chỉ phù bạch huyết, tiếp theo là việc sử dụng rộng rãi trên lâm sàng trên 5.000 bệnh nhân giun chỉ ở Ấn Độ ở những giai đoạn khác nhau của bệnh, thấy vỏ thân cây ruối chữa khỏi và đỡ với tỷ lệ 90 - 100% bệnh giun chỉ ở mức độ bệnh khác nhau. Thuốc cũng có tác dụng làm hết nghẽn mạch bạch huyết do bệnh giun chỉ. vỏ rễ có chứa glycosid có tác dụng trợ tim.

Công dụng:

Quả ngọt của cây ruối ăn được. Theo kinh nghiệm dân gian, nhựa ruối dán vào hai bên thái dương chữa nhức đầu. Cành và rễ thái mỏng sắc uống làm thuốc thông tiểu chữa bụng trướng, vỏ ruối sắc ngậm chữa sâu răng, đau họng, vỏ rễ khô thái nhỏ sao vàng với liều 10 - 40g mỗi ngày, sắc uống trong 5-7 ngày chữa sốt rét.
Nhân dân Campuchia còn dùng rễ ruối phối hợp với nhiều vị thuốc khác chữa ho, lao phổi. Trong y học cổ truyền Ấn Độ, người ta dùng nhánh cây con để làm bàn chải làm sạch răng và chữa chảy mủ lợi. Lá được dùng làm thuốc lợi sữa, bột nhão lá đắp vào chỗ sưng tấy, hạch sưng, và để làm ngừng sự thoát mồ hôi quá mức. Nước hãm lá có thể thay nước chè. Thuốc đắp từ rễ trị loét, sưng tấy và nhọt. Rễ tán bột uống trị lỵ, nước sắc rễ trị giang mai, nước sắc vỏ cây trị sốt, lỵ, tiêu chảy và sát trùng vết thương. Nhựa mủ có tác dụng làm săn và sát trùng, trị đau gót chân, bàn tay nứt nẻ, sưng tuy Hạt ruối chữa chảy máu cam, trĩ và tiêu chảy. Dùng ngoài, bột nhão từ hạt trị bệnh bạch biến.
Người ta còn dùng vỏ ruối chữa bệnh phong, chân voi; dịch ép vỏ cây, thêm đường uống, mỗi lần 3 thìa cà phê, ngày 3 lần, trong một tuần trị chứng giảm niệu. Để trị tiêu chảy, lấy khoảng 200g vỏ ruối, sắc vói 2 lít nước trong một giò, mỗi lần uống 3 thìa cà phê, ngày 3 lần, trong một tuần.

Bài thuốc có ruối

1. Chữa đái rắt, đái buốt, đái ra cặn trắng:

Vỏ rễ ruối, rễ cây nhót rừng, mỗi vị 20g, thái nhỏ, sao vàng sắc uống.

2. Chữa nhức đầu, chóng mặt, sốt nóng, đái đỏ:

Lá ruối, củ ráy dại, mỗi vị 40g; lá cúc tần, lá cỏ xước, mỗi vị 20g; lá tre, lá tía tô, mỗi vị 10g. Tất cả phơi khô, thái nhỏ, sao thơm, sắc uống làm 2 lần trong ngày.

3. Chữa sốt rét, vàng da:

a) Búp ruối, búp tre, mỗi vị 40g; lá hàn the 12g; hoạt thạch 6g. Sắc uống.
b) Búp ruối, lá chỉ thiên, lá trầu không non, liều lượng bằng nhau, sắc uống.

4. Chữa đau răng, sâu răng:

Vỏ ruối, củ gấu, mỗi vị 30g, giã nát, ngâm rượu 70° trong 7-10 ngày. Dùng tăm bông tẩm thuốc đặt vào chỗ đau, ngày 2-3 lần. ến, và bôi thái dương để an thần trị đau dây thần kinh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015

VẢ-Ficus roxburghii-Công dụng cách dùng

VẢ



Tên khoa học: 

Ficus roxburghii Wall. ex Miq.; Họ Dâu tằm (Moraceae).

Tên khác: 

Mác ngoa (Tày).

Tên nước ngoài: 

Fig - tree (Anh); figuier de Roxburgh (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây to, cao 5 - 10 m, tán lá tỏa rộng. Cành mập có lông cứng và thưa. Lá to, mọc so le, phiến dài, mềm, hình gần tròn, dài 15-35 cm, rộng 11-30 cm, gốc hình tim, đầu tù hoặc hơi có mũi nhọn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mịn trên các gân, gân 5 - 7 ở gốc lá, mép khía răng không đều; cuống lá dài, to, nhiều lông thưa; lá kèm màu hung đỏ, có lông.
Cụm hoa mọc ở gốc thân hoặc trên những cành già, hình cầu; hoa đực xếp xung quanh lỗ cụm hoa, đài 4 răng không đều, hàn liền ở gốc, nhị 2 đỉnh ở gốc; hoa cái ở gốc cụm hoa, đài 3 răng hàn liền bao kín bầu lúc non, bầu thuôn ở gốc.
Quả phức to bằng nắm tay, hình cầu dẹt, phần trên phẳng và loe to, hơi lõm ở giữa, phần cuống thuôn nhỏ dần, khi chín màu đỏ nâu sầm, thịt mềm, mặt ngoài có lông nhỏ mịn, bên trong có dịch đường sánh như keo, ăn được.
Mùa hoa quả : tháng 12-3.

Phân bố, sinh thái:

Vả có nguồn gốc ở vùng Ấn Độ - Malaysia, phân bố tự nhiên phổ biến từ Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Philippin, Indonesia, đến Việt Nam, Lào và Nam Trung Quốc, ở các nước này, vả còn được trồng như một loại cây ăn quả thông dụng.
Ở Việt Nam, vả là cây mọc tự nhiên trong quần hệ rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới, thuộc hầu hết các tỉnh vùng núi (từ 1000 m trở xuống) và ở cả miền Bắc lẫn miền Nam. Ở các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Hoà Bình, Thái Nguyên, Lạng Sơn... đôi khi cây cũng được người dân địa phương trồng ở bờ ao hay vườn nhà.
Vả là loại cây ưa ẩm, hơi chịu bóng, thường mọc ở bờ các khe suối dưới tán rừng, thích nghi với điều kiện khí hậu vùng nhiệt đới hay cận nhiệt đới ẩm. Đất ở nơi có cây vả mọc thường khá màu mỡ và có khả năng giữ nước tốt. Vả ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Tác nhân phát tán hạt là dòng nước hoặc qua phân của động vật ăn quả chín như chim, động vật gậm nhấm và bò sát.

Bộ phận dùng:

Quả non và quả chín, dùng tươi hoặc phơi khô.
Còn dùng rễ và lá.

Thành phần hóa học:

Quả vả chứa chất keo thơm.

Tính vị, công năng:

Quả vả có vị ngọt, tính bình, có tác dụng mạnh dạ dày, nhuận tràng, thanh nhiệt, tiêu đờm, lợi tiểu. Rễ và lá vả có tác dụng giải độc, tiêu thũng.

Công dụng:

Quả vả được dùng trị kiết lỵ, trĩ, táo bón. Nhựa dùng bôi trị mũi có nhiều mụn đỏ. Để chữa suy nhược, kém ăn, gầy yếu, dùng quả vả vừa chín tới, phơi nắng hoặc sấy khô, rồi lấy 500g quả cắt nhỏ, ngâm với một lít rượu trắng trong 10-20 ngày. Ngăy uống 3 lần trước bữa ăn và lúc đi ngủ, mỗi lần một chén nhỏ.

Bài thuốc có vả:

1. Chữa họng sưng đau:
Quả vả non 100g, lá chó đẻ 50g, búp tre 30g. Tất cả để tươi, rửa sạch, giã nát, sao nóng, đắp vào chỗ đau, băng lại. Ngày làm hai lần.
2. Chữa cảm, ngộ độc:
Quả vả, quả sung, mỗi vị 200g; lá móc mèo, rễ canh châu, mỗi vị 50g. Thái nhỏ, phơi khô, tẩm rượu, sao vàng, sắc uống làm hai lần trong ngày.
3. Thuốc tăng tiết sữa:
Quả vả khô, sấy giòn, tán bột. Mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần 12g với nước đun sôi để nguội vào lúc đói. Dùng 3 - 5 ngày.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

TRÂU CỔ chữa di tinh, liệt dương

TRÂU CỔ



Tên khoa học: 

Ficus pumila L.; Họ : Dâu tằm (Moraceae).

Tên đồng nghĩa: 

Ficus stipulata Thunb.

Tên khác: 

Vảy ốc, bị lệ, cơm lênh, cây xộp, mộc liên, sung thằn lằn, mác púp (Tày).

Tên nước ngoài:

Creeping fig, climbing fig (Anh).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Dây leo nhỏ, mọc bám nhờ rễ phụ. Cành ngắn và mềm, màu nâu, lúc non có lông sau nhẵn. Lá mọc so le, lá ở cành sinh sản (cành này thường lên cao mới phân cấp) hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 5-7 cm, rộng 2,5 - 4,5 cm, gốc tròn hoặc hơi hình tim, đầu tù hoặc hơi nhọn, hai mặt nhẵn, mép nguyên, gân gốc 3 - 5, nổi rõ ở mặt dưới, gân phụ tạo thành mạng thưa; cuống lá dài 1,8 - 1,5 cm, có lông hung; lá kèm có lông; lá ở cành không sinh sản hình vảy ốc, gốc lệch mọc áp sát vào thân cây chủ, dài khoảng 2 - 2,5 cm, cuống ngắn 2-3 mm.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá; hoa đực rất nhiều, mọc tụ tập ở gần đỉnh, đài 2-3 răng, nhị 2, bao phấn hẹp; hoa cái có 4 lá đài không bằng nhau; bầu thuôn dài, cong.
Quả phức to, hình chóp ngược, đầu bằng, dài 3,5 cm, dày 3 cm, nhẵn, màu tứn nâu khi chín, cùi nạc và mềm xốp.
Mùa hoa quả : tháng 5-10.

Phân bố, sinh thái:

Trâu cổ có nguồn gốc lừ Nhật Bản và Trung Quốc, phân bố tự nhiên từ Trung Quốc đến Việt Nam, Lào; cây còn được trồng rộng rãi khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, để làm cảnh và làm thuốc, ở Việt Nam, cây phân bố gần như khắp nơi, trừ vùng núi cao trên 1500 m. Trâu cổ thường phụ sinh trên thân những cây gỗ ở vùng rừng thứ sinh, dọc theo các bờ sông suối, hay trên những cây cổ thụ ở vùng đồng bằng, trung du cũng như cây trồng lấy bóng mát ở các thành phố. Cây còn mọc bám trên các tảng đá hay tường gạch xây lâu ngày. Lợi dụng khả năng này, người ta trồng trâu cổ cho leo lên các trụ cổng, tường rào và mặt ngoài tường các dinh thự cho thêm phần cổ kính.
Trâu cổ là cây ưa sáng, sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm. Về mùa đông, cây gần như ngừng sinh trưởng nhưng lá vẫn xanh. Cây ra hoa quả nhiều vào mùa hè - thu. Khi quả chín rụng xuống đất, phần thịt thối rữa, hạt phát tán ra xung quanh. Tuy nhiên, tất cả những cây trâu cổ phụ sinh trên thân cây gỗ là do chim ăn quả chín, hạt theo phân chim dính vào vỏ cây giá thể. Trâu cổ có khả năng tái sinh dinh dưỡng khỏe.

Cách trồng:

Trâu cổ thường được trồng cho leo lên các cây to, bờ tường, bờ rào; cây leo đến đâu, các đốt thân sẽ ra rễ đến đó và bám vào giá thể. Cành lá của trâu cổ không đều nhau, có cành lá nhỏ như vảy ốc bám sát vào tường, có cành lá to và thường sẽ cho quả.
Cây được nhân giống bằng các đoạn thân có rễ ở đốt. Chỉ cần cắt một đoạn rồi giâm xuống đất và bảo đảm đủ ẩm sẽ mọc thành cây. Chú ý trồng cạnh bờ tường, cây to để cây có chỗ leo. Trâu cổ sống khỏe, sinh trưởng, phát triển nhanh, ít sâu bệnh, không cần chăm sóc.
Quả, thân mang lá, lá và rễ.
Vỏ quả trâu cổ chứa chất gôm 13%. Khi thủy phân, chất này cho glucose, fructose và arabinose.
Thân và lá chứa rutin, mesoinositol, β-sitosterol, taraxeryl acetat, β amyrin - acetat (Trung thảo dược học II, 1976).
Nhựa mủ chứa 2 chất kết tinh có điểm chảy theo thứ tự 184 - 85° và 68 - 69°, 1 chất màu vàng có khả năng thẩm tích được, một enzym có hoạt tính thủy phân protid là ficin (chất này độc với ngươi và một chất trong suốt (The Wealth of India IV, 1956).
Theo Kawabe Seiichiro và cs., 1989, hạt của F. pumila L. var. aukeotsang chứa polysaccharid với trọng lượng phân tử ~ 283.000.

Tác dụng dược lý:

Thí nghiệm trên chuột nhắt, polysaccharid của quả trâu cổ vói liều 416,6 mg/kg, tiêm xoang bụng hoặc tiêm dưới da liên tục 10 ngày có tác dụng ức chế nhiều loại tế bào ung thư đã được cấy ghép trên chuột, mạnh nhất đối với sarcom lympho I và sarcom 180. Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, polysaccharid có tác dụng tăng cường phản ứng miễn dịch của chuột cả ở lô bình thường và lô đã được cấy ghép khối u cũng như lô đã cấy ghép khối u đang dùng hóa trị liệu hoặc xạ trị liệu (radiotherapy). Thuốc làm tăng số ỉượng tế bào sinh kháng thể ở lách, tăng cường tác dụng thực bào của các macrophage ở xoang bụng, đồng thời làm tăng số lượng bạch cầu máu ngoại vi.

Tính vị, công năng:

Quả trâu cổ có vị ngọt, chát, tính bình, có tác dụng bổ thận, tráng dương, cố tinh, hoạt huyết, hạ nhũ.
Thân, cành, lá có vị chua, đắng, tính bình, có tác dụng khư phong, lợi thấp, tiêu thũng, tán kết.
Rễ có vị đắng, chát, tính bình, có tác dụng khư phong, trừ thấp, thư kinh, thông lạc.

Công dụng:

Quả trâu cổ là một vị thuốc bổ được nhân dân dùng từ lâu đời để chữa dương ủy di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày thoát giang, tắc tia sữa. Liều dùng hàng ngày : 5 - 15g, có thể đến 20 - 30g dưới dạng thuốc sắc hoặc chế thành cao.
Thân, cành, lá chữa phong thấp, đau nhức chân tay, mình mẩy với liều 9 - 15g mỗi ngày, dưới dạng nước sắc hoặc ngâm rượu uống.
Rễ chữa đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau dây thần kinh toạ. Nhựa mủ bôi ngoài chữa mụn nhọt, đầu đinh, ghẻ lở, dị ứng sơn.

Bài thuốc có trâu cổ:

1. Chữa đau xương, đau mình:

Quả trâu cổ thái nhỏ nấu với nước, lọc bỏ bã, cô đặc thành cao. Ngày uống 5 - 10g (Đỗ Tất Lợi). Có thể dùng dây và lá phơi khô.

2. Chữa dương ủy, di tinh:

Quả trâu cổ 12g, dây sàn xạt 12g. sắc nước uống (Trung thảo dược học Trung Quốc).

3. Chữa thấp khớp mạn tính:

Cành trâu cổ, rễ cỏ xước, thổ phục linh, rễ tầm xuân, mỗi thứ 20g; dây rung rúc 12g; thiên niên kiện, rễ gấc, lá lốt, dây đau xương, cành dâu mỗi thứ 10g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô sắc với 400 ml nước còn 100 ml, cô tiếp cho thật đặc, khi dùng hòa thêm rượu chia 3 lần uống trong ngày. (Bệnh viện Vân Đình, huyện ứng Hoà, Hà Tây).

4. Chữa tắc tia sữa, sưng vú:

Quả trâu cổ 40g; bồ công anh, lá mua mỗi thứ 15g. Sắc nước uống. Kết hợp dùng ngoài, lấy lá bồ công anh giã nhỏ chế với giấm, chưng nóng rồi chườm đắp (Lê Trần Đức).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật