Thứ Năm, 12 tháng 2, 2015

RAU RĂM-Polygonum odoratum-Những người không nên ăn

RAU RĂM



Tên khoa học: 

Polygonum odoratum Lour.; Họ Rau răm (Polygonaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Persicaria odorata (Lour.) Soják         

Tên khác: 

Thủy liễu, lão liễu, phắc phèo (Tày).

Tên nước ngoài:

Fragrant knot weed, smart weed (Anh); renouée odorante, persicaire (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo nhỏ, sống hàng năm, cao 10 - 30 cm. Thân bò, bén rễ ở các mấu; thân đứng mảnh, màu trắng hoặc tía, có khía mờ. Lá mọc so le, hình mũi mác, gốc tròn, đầu thuôn nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, đôi khi có vết trắng hình chữ V, gân giữa có ít lông nhỏ; bẹ chìa mỏng, ngắn, ôm thân, có nhiều gân song song kéo dài thành những sợi nhỏ; cuống lá dính ở phần cuối của bẹ chìa.
Hoa màu trắng, đôi khi pha hồng hoặc tún, mọc thành bông hẹp, mảnh; lá bắc dài hình phễu, có lông nhỏ ở mép; bao hoa gồm đài và tràng; nhị 8, thọt, không bằng nhau.
Quả bế, nhỏ, có 3 cạnh, nhọn đầu, nhẵn bóng.
Toàn cây có mùi thơm hắc.
Rau răm là loài đặc hữu của Việt Nam, Lằo và Campuchia; cây tồn tại trong quần thể hoang dại cũng như được trồng. Trên thực tế ở Việt Nam, rau răm vẫn được coi là loại cây trồng tương đối phổ biến ở hầu hết các địa phương để làm rau gia vị.
Rau răm thuộc loại cây ưa khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở vùng đồng bằng, trung du và miền núi độ cao dưới 1000 m, cây vẫn sinh trưởng và phát triển tốt. Đến độ cao trên 1500 m (ở Sa Pa) cây sinh trưởng chậm hơn, thậm chí còn bị chết khi nhiệt độ xuống gần 0°c. Rau răm ưa ẩm và hơi chịu bóng, có thể sống trong môi trường đất ngập nước, song không chịu được hạn.
Ở những cây không bị ngắt ngọn thường xuyên, có thể ra hoa quả hàng năm. Rau răm còn có khả năng mọc chồi gốc và chồi thân khỏe. Do đó trong một đám rau răm trồng, khó phân biệt được từng cá thể.

Cách trồng:

Rau răm được trồng ở bờ ao, bờ mương, rãnh nước, ruộng ẩm khắp nơi.
Cây được nhân giống bằng thân. Dùng các đoạn thân dài 15 - 20 cm hay bứng cả gốc đem trồng, tốt nhất vào mùa xuân. Các đốt thân ra rễ bám sâu vào đất và đâm chồi. Cây phát triển mạnh vào mùa xuân - hè.
Nếu trồng lớn, có thể tìm chân ruộng trũng hay ao nông, cày bừa sục bùn, bón phân lót rồi trồng theo khóm với khoảng cách 10 x 20 cm.
Rau răm thu hoạch quanh năm, trừ mùa đông, cây sinh trưởng kém. Khi thu, hái hết ngọn thành từng lứa, sau đó bón thúc. Dùng phân chuồng hoai, phân nước, nước giải, đạm pha loãng để tưới.

Bộ phận dùng:

Cành và lá (Ramulus et Folium Polygoni Odorati).

Thành phần hóa học:

Rau răm chứa tinh dầu màu vàng nhạt với thành phần chủ yếu là các alkan aldehyd (Prosea 13, 1999).
Theo Nguyễn Xuân Dũng và cs., tinh dầu rau răm chứa 50 chất, trong đó 28 chất đã được nhận dạng, 3 chất chủ yếu là β- caryophylen 36,5%, dodecanal 11,4% và caryophylen oxyd 8,2%.

Tác dụng dược lý:

1. Tác dụng gây sẩy thai, tiêu thai:

- Thí nghiệm trên thỏ : Thỏ cái trọng lượng trên 2,2 kg, cho ghép với thỏ đực. Sau khi giao phối, bắt thỏ cái nhốt riêng. Sau 3 ngày, cho thỏ uống nước ép rau răm tươi với liều 15 g/kg, trong 5 ngày liền. Kết quả là 2 thỏ ra huyết, 7 thỏ mổ ra bào thai tiêu hết, chỉ còn lại những vệt ngấn ngăn các ổ, 1 thỏ thai vẫn còn.
- Thí nghiêm trên chuột cống trắng : Chuột cái 120g, 3 con ghép với 1 đực. Hàng ngày, xét nghiệm tế bào âm đạo để xác định chuột đã có chửa. Sau 2 ngày, cho chuột uống nước ép rau răm tươi với liều 20 g/kg, trong 5 ngày liền. Kết quả : ở lô đối chứng, chuột đẻ 100% (5/5), ở lô thuốc, chuột đẻ 33% (2/6), chuột không đẻ 66,7% (4/6). Một thí nghiệm khác, cũng nghiên cứu trên chuột cống trắng có thai, lại không thấy có tác dụng.

2. Thử tác dụng đến thế hệ sau:

Những chuột đã uống thuốc mà vẫn đẻ. Nuôi chuột con đến lớn, rồi lại ghép đôi để cho chuột sinh sản. Kết quả chuột đẻ bình thường và chuột con đẻ ra cũng bình thường.

3. Tác dụng kháng estrogen:

Dựa vào tính chất của estrogen là gây sừng hóa tế bào âm đạo. Dùng chuột nhắt trắng cái đã cắt bỏ buồng trứng rồi chia làm 3 lô. Lô đối chứng không dùng gì, lô chuẩn dùng diethylstylboestrol, lô thuốc dùng nưóc ép rau răm tươi liều dùng 5 g/kg/ngày trong 2 ngày; sau đó dùng diethylstylboestrol, rồi xét nghiệm tế bào âm đạo. Kết quả: ở lô đối chứng, không có tế bào sừng, chỉ có bạch cầu và tế bào biểu mô; ở lô chuẩn và lô thuốc có rất nhiều tế bào sừng. Điều đó chứng minh rau răm không có tác dụng kháng estrogen rõ rệt.

4. Tác dụng giải độc nọc rắn:

Trên chuột nhắt trắng, tiêm một liều thích hợp nọc rắn hổ mang để chuột chết từ 4 đến 8 con trong 10 con thử nghiệm (40 - 80% chuột chết). Sau đó, sàng lọc các thuốc dân gian chữa rắn cắn thấy dịch ép rau răm cho chuột uống trước khi liêm liều nọc rắn gây độc, làm kéo dài thời gian cầm cự trước khi chuột chết và làm tăng tỷ lệ chuột sống.

5. Tác dụng kháng nấm in vitro:

Dùng dịch rau răm 30% chiết cồn thử trên một số nấm da có so sánh với cồn iod 1% và thuốc chống nấm thấy rau răm có tác dụng diệt nấm yếu, chỉ ngăn cản sự tăng trưởng của nấm, tác dụng kém cồn iod 1%.

6. Thử lâm sàng gây sẩy thai:

Dùng rau răm tươi, loại thân đỏ hơi ngả tím (loại thân xanh trắng không có tác dụng) 500g, bỏ rễ, lá già, rửa sạch, vẩy hết nước, giã nát, ép lấy nước được khoảng 250 ml; uống làm một lần vào buổi tối trước khi ngủ. Nếu có kết quả thì ngay tối hôm đó hoặc sang hôm sau, phôi thai sẽ ra, đạt tỷ lệ 60 - 80% ở những ngưòi chậm kinh trên dưới 5 ngày. Những trường hợp không có kết quả phải áp dụng biện pháp hút điều hòa kinh nguyệt.

Tính vị, công năng:

Rau răm có vị cay nồng, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, ích trí, minh mục, tiêu thực, sát trùng. Ăn rau răm sống thì ấm bụng, mạnh chân gối, sáng mắt, ăn nhiều sinh nóng rét, thương tổn đến tủy, làm giảm tinh khí, giảm tình dục. Phụ nữ hành kinh mà ăn rau răm hoặc tỏi dễ sinh rong huyết.

Công dụng:

Rau răm chữa dạ dày lạnh, đầy hơi, đau bụng, kém ăn, nôn mửa, còn dùng chữa say nắng, khát nước. Dùng ngoài, chữa hắc lào, sâu quảng, rắn cắn. Ngày 20 - 40g rau tươi, giã lấy nước uống hoặc sắc uống.

Bài thuốc có rau răm:

1. Chữa nôn mửa, tiêu chảy:

Hạt rau răm 20g, hương nhu 40g sắc uống. Nếu bị nặng, dùng lá rau răm tươi loại thân đỏ 100g, thêm 300 ml nước, sắc lấy 200 ml, rồi thêm 100g đậu xị (đậu đen đồ, ủ cho lên men), sắc còn 100 ml chia làm 2 lần uống trong ngày.

2. Chữa say nắng, ngất do khát, bán hôn mê:

Rau răm tươi 50g giã vắt lấy nước cốt, đun sôi, cho uống; Nếu nặng, dùng rau răm 30g, sâm bố chính (tẩm nước gừng) 20g, rễ đinh lăng lá nhỏ 16g, mạch môn 10g. Tất cả sao vàng, sắc uống làm 2 lần.

3. Chữa ghẻ lở, chốc, sâu quảng, hắc lào:

Rau răm ngâm rượu cho thật đặc, bôi; hoặc giã nát, đắp và băng lại. Có thể dùng rau răm phơi khô, đốt thành tro cùng vói cói chiếu rồi rắc.

4. Chữa tê bại, vết thương bầm tím, sưng đau:

Rau răm tươi giã nát, trộn với long não hoặc dầu long não, xoa bóp.

5. Chữa rắn cắn:

Rau răm 20g, hạt thảo quyết minh 20g, lá mua lông 20g. Tất cả dùng tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước, gạn uống, bã đắp. Làm nhiều lần trong ngày.

Ghi chú:

Rau răm tuy không độc, nhưng dùng nhiều có hại về mặt sinh lý, làm giảm tình dục, kém cường dương tráng khí; do đó các vị tu hành thường dùng rau răm để tránh những cơn bốc dục. Dùng nhiều rau răm, chân huyết sẽ khô đi, hay phá huyết. Khi có thai không nên ăn nhiều rau răm. Những người gầy yếu, máu nóng, không được dùng rau răm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

RAU NGỔ-Limnophila aromatica-công dụng cách dùng

RAU NGỔ



Tên khoa học:

Limnophila aromatica (Lam.) Merr.; Họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Ambulia aromatica Lamarck, Encycl. 1: 128. 1783; Limnophila aromaticoides Yang & Yen; L. chinensis subsp. aromatica(Lamarck) T. Yamazaki; L. gratissimaBlume; L. punctata Blume; L. punctata var. subracemosa Bentham.

Tên khác: 

Ngổ ăn, ngổ ba lá, rau om.

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, cao 20 - 30 cm, có rễ chùm. Thân ngầm, bén rễ ở những mấu; thân đứng hình trụ nhẵn, có khía dọc. Lá mọc vòng 3 - 5 cái (thường là 3), đôi khi mọc đối (những lá gần ngọn), những lá ở dưới mọc dựng lên, những lá trên mọc ngang, phiến hình mác thuôn, dài 2 - 3 cm, rộng 0,4 - 0,6 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mép khía răng thưa và nông, hai mặt nhẩn, gân giữa lồi rõ; cuống rất ngắn.
Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ những lá gần ngọn, có cuống dài 1 cm, nhẵn; lá bắc ngắn hình sợi; đài hình chuông, 5 răng khô xác, mép có vài lông tuyến đa bào; tràng dài gấp đôi đài, có ống ngắn, chia 2 môi; nhị có chỉ nhị nhẵn.
Quả nang, nhẵn, hình trứng, ngắn hơn đài.

Phân bố, sinh thái:

Chi LimnophilaR. Br. gồm một số loài là cây thảo, phân bố khắp vùng nhiệt đới châu Phi, châu Á và châu Đại Dương, ở Việt Nam, có khoảng 15 loài. Rau ngổ vốn là cây mọc hoang dại ở bờ suối hay những vũng nước nông ở vùng núi. Rau ngổ để ăn hiện nay chủ yếu do trồng. Trong khi đó, rau ngổ cũng phân bố tự nhiên khá phổ biến ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới châu Á như Ấn Độ, Srilanca, Indonesia, Philippin, Niu Ghinê, Lào... và được trồng ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản như loại rau gia vị thông dụng.
Rau ngổ là cây ưa mọc trên đất sình lầy, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng. Cây ra hoa quả hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt. Sau khi bị ngắt ngọn hay cắt toàn thân, phần gốc còn lại tái sinh chồi khỏe. Chồi mọc ra ở kẽ lá theo kiểu lưỡng phân, và sinh trưởng với tốc độ nhanh. Do đó, trong một năm, người ta có thể thu hái hàng chục lần trên cùng một cá thể.

Cách trồng:

Rau ngổ được trồng ở khắp nơi, rải rác trong vườn gia đình với vài ba khóm ở bờ ao hoặc nơi có bùn nước. Có thể trồng thành bè nổi trên mặt ao, hồ hoặc dùng nứa kết thành mảng, trên phủ đất bùn, rồi cấy rau ngổ lên trên. Nếu trồng ở ruộng, cần cày bừa như làm đất trồng lúạ, bón lót ít phân chuồng.
Rau ngổ được nhân giống bằng thân bò. Dùng những đoạn thân dài 30 - 40 cm để cấy như cấy rau muống. Nếu trồng trên mặt ao, hồ, cần lấy cả đoạn giống dài, tạo thành bè thả nổi trên mặt nước.
Cây không cần chăm sóc, nhưng nếu được bón phân (phân chuồng hoai, phân nước, nước giải, đạm) sẽ sinh trưởng tốt hơn. về mùa đông, cây không tàn lụi và sang hè thu cây sinh trưởng mạnh hơn.

Bộ phận dùng:

Phần trên mặt đất còn non, thu hái vào đầu mùa hạ, dùng tươi (Herba Limnophilae Aromaticae)..

Thành phần hóa học:

Rau ngổ chứa 0,13% tinh dầu, flavonoid và tanin. Trong tinh dầu, chủ yếu là d-limonen và d-perilaldehyd.

Tác dụng dược lý:

Dựa vào những kết quả điều tra đạt được ở Hợp tác xã Y học dân tộc Hải Thượng - Cần Thơ, các tác giả Thu Cúc và Phó Đức Thuần đã tiến hành nghiên cứu dược lý về rau ngổ và có những nhận xét sau: rau ngổ có độc tính rất thấp, không đáng kể, có tác dụng lợi tiểu, dãn cơ, giải co thắt cơ trơn, dãn mạch máu, tăng lọc ở cầu thận, do đó tăng lượng nước tiểu, tạo điều kiện cho sỏi thận bị tống ra ngoài.

Tính vị, công năng:

Rau ngổ có vị cay, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chỉ dưỡng.

Công dụng:

Rau ngổ được dùng làm gia vị nấu canh chua, về mặt thuốc, theo kinh nghiệm của lương y Lê Quang Tốt, rau ngổ chữa sỏi thận đạt kết quả tốt bằng cách lấy rau (50g) giã nhỏ, vắt lấy nước pha thêm ít muối, uống ngày 2 lần. Dùng riêng hoặc phối hợp với một số vị thuốc lợi tiểu như mã đề, râu ngô. Sau khi dùng thuốc một thời gian, bệnh nhân đái thông, các cơn đau giảm hoặc mất hẳn.
Ở Trung Quốc, rau ngổ được dùng chữa rắn độc cắn, mụn nhọt, đầu đinh, mẩn ngứa, với liều dùng 15 - 30g rau tươi hoặc 3 - 15g rau khô dưới dạng nước sắc hoặc ngâm rượu uống. Kết hợp dùng ngoài giã nát lá đắp, vắt lấy nước bôi hoặc dùng nước sắc để rửa. Ở Đài Loan, rau ngổ chữa rối loạn kinh nguyệt, ngộ độc. Ở Malaysia, nước sắc từ rễ và lá rau ngổ là thuốc hạ sốt hoặc long đờm.

Bài thuốc có rau ngổ:

- Chữa rắn độc cắn

Rau ngổ 15g, xuyên tâm liên 24g, giã nát thêm một lượng rượu vừa đủ, vắt lấy nước uống, bã xát xung quanh vết cắn.

- Trị sỏi thận:

Dùng rau ngổ giã nhỏ, lấy nước pha ít hạt muối, uống ngày 2 lần vào sáng và chiều (uống liền trong 7 ngày).

- Trị vết thương ngoài da gây mủ:

Giã nát vài ba cây rau tươi, đắp lên vết thương.

- Trị cảm ho:

Sắc khoảng 20 g cây tươi, uống.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

VÔNG VANG-Abelmoschus moschatus-Công dụng cách dùng

VÔNG VANG



Tên khoa học: 

Abelmoschus moschatus Medik.; Họ Bông (Malvaceae).

Tên đồng nghĩa: 

Hibiscus abelmoschusLinnaeus, Sp. Pl. 1: 696. 1753; Abelmoschus moschatus var. betulifolius (Masters) Hochreutiner; H. abelmoschus var. betulifolius Masters; H. chinensis Roxburgh ex Masters.

Tên khác:

Hoàng quỳ, bụp vang, vông vàng, bông vang, bông rừng, cây la, đông quỳ, phải phi (Tày), co ta vên (Thái), hìa púi (Dao).

Tên nước ngoài:

Musk mallow, Ladies' fingers, abelmosk, snakeseed (Anh); ambrette, guimauve veloutée, herbe musquée, ketmie odorante, ketmie musquée (Pháp).

Đặc điểm thực vật (Mô tả):

Cây thảo, cao 0,8 - 1 m. Thân hình trụ, hoá gỗ ở gốc, có lông nháp. Lá mọc so le, có cuống dài, gốc hình tim, đầu nhọn, mép khía răng nhỏ, gân lá hình chân vịt, hai mặt có lông; lá phía dưới chia thuỳ nông, thuỳ hình tam giác; lá phía trên chia 5 thuỳ sâu, thùy hình mác; lá kèm nhỏ, hình giùi.
Hoa to, màu vàng, mọc đơn độc, có cuống dài; tiểu đài có 10 răng nhọn, rất hẹp; đài có răng rộng hơn; tràng 5 cánh rộng; nhị nhiều, tụ tập trên một cột nhẵn; bầu có lông.
Quả nang, hình chóp nhọn, có lông trắng, khi chín không còn tiểu đài; hạt nhỏ và nhiều, hình thận, có mùi xạ.
Mùa hoa quả: tháng 5-9.

Phân bố, sinh thái:

Chi AbelmoschusMedik. có 5 loài ở Việt Nam, loài vông vang vốn có nguồn gốc ở Ấn Độ, sau phát triển rộng khắp vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á. ở Việt Nam cây mọc rải rác từ vùng núi thấp (thường dưới 1000 m) đến trung du và đôi khi thấy cả ở đồng bằng.
Vông vang là loại cây ưa sáng, có thể hơi chịu hạn, thường mọc lẫn với các loại cây cỏ thấp ở nương rẫy, ven đồi, bãi hoang hay ven đường đi. Cây con mọc từ hạt thường vào tháng 4-5; sinh trưởng nhanh trong mùa hè, đến cuối mùa thu thì có hoa quả. Quả vông vang già tự mở cho hạt phát tán ra xung quanh, sau đó toàn cây tàn lụi. Cá biệt có những cây sống nơi đất ẩm chỉ tàn lụi một phần (cành lá), phần thân cành còn lại sẽ mọc chồi vào mùa xuân năm sau.

Cách trồng:

Vông vang được trồng trên quy mô lớn ở Indonesia, Ấn Độ, Madagascar, còn ở Việt Nam cây mới bắt đầu được nghiên cứu thăm dò.
Vông vang được nhân giống bằng hạt. Vào tháng 9 - 10, thu lấy những quả già đem phơi khô đập lấy hạt, bảo quản đến tháng 12-1 đem gieo trong vưòn với mật độ 2g/m2 (khoảng trên dưới 200 hạt). Đến tháng 3-4, có thể đánh cây con đi trồng. Cũng có thể thu gom cây con mọc tự nhiên về trồng.
Cần nghiên cứu thêm về mật độ, phân bón và theo dõi sâu bệnh hại.
Quần thể vông vang tự nhiên ở Việt Nam rất đa dạng cả về hình thái và hàm lượng tinh dầu. Cần chú ý nghiên cứu chọn giống để phát triển cây này thành nguồn dược liệu có giá trị hàng hoá.

Bộ phận dùng:

Rễ, lá, thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Hạt lấy ở những quả già phơi khô.

Thành phần hoá học:

Hạt vông vang chứa tinh dầu gồm ambretolic ((Z)- 7 - hexadecen - 16 - olid), acid ambretolic, farnesol, acid 12,13 - epoxyoleic, acid malvalic, acid sterculic, các acid C10, C18 (acid oleic, acid palmitic, các acid C10, C12, C14, C16, C18)
Đã chiết xuất từ hạt vông vang, trong đó có (Z)-5-tetradecen-14-olid, (Z) - 5 - dodecenyl acetat và (Z)-5-tetradecenyl acetat với các hiệu suất theo thứ tự 0,5, 0,01 và 0,4%.
Vỏ hạt có 2-trans, 6-trans-farnesyl acetat, 2- cis, 6-trans - farnesyl acetat và oxacyclononodec-10-2-on (chất đồng đẳng của ambretolid).
Chất có mùi xạ chủ yếu là do ambretolid và (Z)-5- tetradecen-14-olid. (Albert Y. Leung và cs., 1996).
Theo Tang Yuanjiang và cs., 1990, tinh dầu hạt có 27 thành phần, trong đó có 2 thành phần chính là trans-2-trans-6-farnesyl acetat 64,22% và ambretolid 14,96%
Theo De Rijke D. và cs., 1982, tinh dầu hạt có 1-(2 - acetoxyethyl)-2-hexylcyclopropan và 1 - (4 - acetoxybutyl)-2-hexylcyclopropan.
Tinh dầu vông vang thu thập từ 5 mẫu nguyên liệu khác nhau ở vùng biển Thái Bình, Nghệ An, đến vùng núi cao Yên Bái, Hà Giang và Lào Cai bằng phương pháp cất kéo hơi nước có 3 thành phần chính là E-2,3-dihydrofarnesyl acetat 42,51 - 55,55%, E-E-farnesyl acetat 13,77-25,39%, ambretolid 6,77 -8,61%. Hàm lượng ambretolid trong tinh dầu tương đối cao và tương đương với tinh dầu vông vang thương phẩm của Ecuador (Ninh Khắc Bản và cs., 2000).
Hạt còn chứa các chất khác như methionin sulfoxyd, phospholipid (α-cephalin, phosphatidylserin, phosphatidylcholin plasmalogen) và sterol (campesterol, sitosterol, stigmasterol, ergosterol và cholesterol. Dầu hạt còn có acid palmitic, acid myristic. Hạt còn có các acid béo mạch dài và các acid béo. Các acid béo nói sau nếu đã được tính chế sẽ tạo ra mùi xạ của ambretolid, hiệu suất từ 0,2 - 0,6% (Albert Y.Leung và cs., 1996).

Tính vị, công năng:

Vông vang có vị ngọt nhạt, nhiều nhớt, tính mát, vào ba kinh: can, tỳ, phế, có tác dụng tiêu độc, sát trùng, trừ thấp, nhuận tràng, lợi tiểu, làm dễ đẻ.

Công dụng:

Lá vông vang được dùng chữa táo bón, thuỷ thũng, tán ung độc, thúc đẻ. Ngày dùng 20 - 40g, dạng thuốc sắc, thuốc hãm hoặc dùng tươi giã nhuyễn vắt nước uống. Rễ vông vang chữa nhức mỏi chân tay, các khớp sưng nóng đỏ đau co quắp, mụn nhọt, viêm dạ dày hành tá tràng, với liều 20 - 40g/ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc hãm. Hạt chữa đái buốt, đái dắt, sỏi thận, sỏi bàng quang, đại tiểu tiện bí kết, làm dễ đẻ và bôi mụn lở; giã giập hạt thêm nước uống hoặc sắc uống. Hạt còn được dùng làm thuốc trấn kinh, chữa di tinh; ngày 4 - 6g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Để chữa rắn cắn, lấy 50 hạt vông vang hoặc nhiều ít tuỳ theo nặng nhẹ, nhai nhỏ, nuốt nước, bã đắp lên vết cắn.

Kiêng kỵ: 

Cơ thể suy nhược, tiêu chảy, đái đêm nhiều không nên dùng.

Bài thuốc có vông vang:

1. Chữa dái đục:

Rễ vông vang một nắm, cạo sạch vỏ ngoài, giã nát, sắc với 400ml nước còn 100ml, rồi phơi sương một đêm, uống vào lúc đói.

2. Chữa sỏi bàng quang và sỏi thận:

Lá, rễ và hạt vông vang 40g; rễ cỏ tranh, bông mã đề, mỗi vị 20g, Sắc uống ngày một thang.

3. Chữa đại, tiểu tiện không thông, bụng chướng:

Hạt vông vang, mộc thông, hoạt thạch, lượng bằng nhau. Tán bột, uống mỗi lần 8 - 12g với nước hành, hay sắc cả 4 vị uống, ngày 3 lần.

4. Chữa mụn nhọt làm chóng mưng mủ:

Rễ vông vang, rễ gai, lượng bằng nhau. Rửa sạch, giã nát đắp.

5. Chữa rắn cắn:

Lá vông vang, lá dây bông báo, mỗi vị 50g; hạt hồng bì 20g. Tất cả dùng tươi, giã nát, lấy nước xoa bóp từ trên cho xuống đến vết cắn, rối lấy bã đắp vào vết thương, băng lại. Ngày làm hai lần. Nếu dùng dược liệu khô thì tán và rây thành bột mịn, hoà với ít nước rồi đắp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

RƯỢU – BIA VỚI CÁCH NHÌN NHẬN CÔNG BẰNG

RƯỢU – BIA VỚI CÁCH NHÌN NHẬN CÔNG BẰNG


Người Nhật nổi tiếng với nhiều bí quyết trên con đường tìm bến trường sinh, thể hiện bằng tuổi thọ trung bình ngày càng tăng cao. Một trong những bí quyết được chúng ta biết đến đó là sự tinh tế trong ẩm thực của họ ngay cả với những thứ thường đựơc coi là độc hại như rượu – bia. Người Nhật nói rằng: “Một chén rượu, người uống rượu; 2 chén rượu thì rượu uống rượu; 3 chén rượu thì rượu uống người”. Nhân không khí ngày tết, thay cho lơì chúc bách niên giai lão, chúng ta thử cùng tìm hiểu rõ hơn về ẩn ý của lời khuyên này.

“Người uống rượu”…

Tết đến, trong những dịp liên hoan bạn bè hay sum họp gia đình mà không có chén rượu, cốc bia kể ra cũng thiếu thiếu vì rượu bia góp phần không nhỏ làm không khí tưng bừng hơn. Bên cạnh đó, những tác dụng tích cực của rượu bia đối với sức khoẻ cũng được khoa học ghi nhận.
Từ rất lâu, một số nước đã có văn hoá dùng rượu khai vị trước bữa ăn dựa trên lợi ích kích thích tiêu hoá của rượu. Nhiều loại rượu được coi là bí quyết chữa bệnh như: rượu vang đỏ chống lại bệnh mất trí nhớ, phòng chống bệnh tim mạch và ung thư; rượu tỏi giúp tăng cường miễn dịch, ổn định huyết áp…
            Gần đây, các nghiên cứu cũng khẳng định lợi ích của bia trên nhiều phương diện. Bia không những giúp chúng ta ăn ngon miệng mà còn chứa nhiều cholesterol có lợi và các chất ngăn ngừa co thắt mạch làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Đặc biệt, bia giúp cân bằng cuộc sống tinh thần nhờ chứa hoạt chất giúp giảm stress, tránh căng thẳng và trầm cảm.
            Vậy nên để ngày tết vui vẻ hơn, chúng ta cùng nâng ly chúc nhau vạn sự như ý, miễn là đừng để…

 “Rượu uống người”

            Có lẽ những tác hại của bia rượu thường được mọi người biết rõ hơn cả những lợi ích phía trên. Hầu như ai cũng biết nếu lạm dụng bia rượu thì sẽ có nguy cơ cao bị các bệnh: gan nhiễm mỡ, xơ gan, ung thư gan, suy giảm trí nhớ… Tuy nhiên, khi nào thì “rượu uống người” vẫn là một chiếc đèn đỏ mà ít người nhìn rõ bởi sự đa dạng muôn màu của “nàng tiên tửu”.
            Rượu bia gây hại cho cơ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: cơ địa, giới tính, mức độ thường xuyên… nhưng chủ yếu là do nồng độ cồn đưa vào cơ thể, cồn càng nhiều thì độc tính càng cao. Một số loại rượu hay sử dụng trên thị trường có nồng độ cồn như sau:
  • Whisky, Voska, Johnnie, rượu gạo: 40% (mỗi 30ml chứa khoảng 10gr cồn)
  • Rượu vang: 11-14% (mỗi 100ml chứa khoảng 10gr cồn)
  • Bia: 4.8% (mỗi 250ml chứa khoảng 10gr cồn)
Theo thống kê ,nếu uống >160gr/ngày, liên tục 7 ngày thì nguy cơ viêm gan do rượu sẽ xảy ra và nếu tiếp tục uống trên 8 năm thì nguy cơ xơ gan là 40%. Nếu tính trung bình, nam giới uống 80gr/ngày và nữ uống 60gr/ngày liên tục trên 10 năm thì nguy cơ xơ gan đến 12-15%.

Có  khi nào  “Rượu ăn thịt người”?

           
            Nghe thì có vẻ rùng rợn nhưng thực tế đúng là như vậy, đặc biệt là trong dịp Tết cổ truyền…
            “Tết mà,…” là lý do thường được đưa ra để nguỵ biện trong những cuộc vui quá đà với “nàng tiên tửu”, dẫn tới hậu quả là tai nạn giao thông đáng tiếc do người điều khiển vẫn trong trạng thái mơ màng.
            Nguy hiểm không kém là tình trạng sử dụng phải rượu – bia giả, mặt hàng nở rộ vào dịp Tết do nhu cầu tăng cao. Do được pha từ cồn công nghiệp nên rượu – bia giả có nồng độ methanol cao gấp nhiều lần mức cho phép (< 0,05%). Đây là chất gây suy thận, mù mắt, tổn thương thần kinh và có thể dẫn tới tử vong. Mỗi năm, số người bị ngộ độc rượu phải vào viện cấp cứu trong dịp Tết chiếm đến 50% tổng số bệnh nhân ngộ độc rượu cả năm.

Phương pháp giải rượu


            Uống rượu-bia vượt quá mức cho phép của cơ thể sẽ dẫn đến tình trạng say. Trường hợp nặng, y học gọi là “ngộ độc cồn cấp tính”, bệnh nhân rối loạn thực thể và tâm thần, có thể hôn mê do hạ đường huyết dẫn tới suy hô hấp và di chứng não. Do đó cần đưa bệnh nhân tới bệnh viện để cấp cứu kịp thời.
            Trường hợp say rượu-bia nhẹ thì có thể áp dụng các phương pháp đơn giản sau:
  • Uống chè đặc: chè chứa chất có khả năng giải trừ được ngộ độc do cồn.
  • Uống cà phê: cà phê có tác dụng mạnh trong giải rượu và lợi tiểu. Sau khi ngủ say, nếu thấy hiện tượng ngủ mê mệt, có thể dung nước sôi pha một chút cà phê đặc cho uống liên tiếp để bệnh nhân tỉnh lại.
  • Uống nước chè, đậu xanh: Đậu xanh 50g, rang chín, trộn lẫn một nắm chè, dùng nước sôi pha trong ấm rồi uống, sau khoảng 10 phút sẽ giải rượu ngay.
  • Uống nước mía: ép mía lấy nước uống hoặc nhai trực tiếp lấy nước.
  • Ăn củ cải-đường-giấm: củ cải thái thành sợi nhỏ cho them đường, giấm vào trộn đều, vừa ngon miệng lại có tác dụng giải rượu.
  • Uống giấm ăn hoặc dùng giấm ăn 50g, đường đỏ 25g, gừng sống 3 lát, đun qua rồi uống.

PHẬT THỦ - QUẢ QUÝ NGÀY TẾT

PHẬT THỦ - QUẢ QUÝ NGÀY TẾT


Người Á Đông coi Phật thủ như một loại trái cây may mắn và đậm chất tâm linh, có lẽ xuất phát từ hình dáng giống như bàn tay Phật đang chắp ngón nguyện cầu. Và cũng vì thế, Phật thủ thường được bày trong mâm ngũ quả dâng tổ tiên vào dịp tết cổ truyền. Nhưng sau tết, do Phật thủ không phải loại trái ăn quả nên chúng ta không “thụ lộc” được mà đành ngậm ngùi bỏ phí, đó chẳng phải điều rất đáng tiếc sao?Nếu biết rằng đây là một vị thuốc quý thì có lẽ rất nhiều gia đình sẽ thực sự được hưởng “lộc tổ tiên”.

Phật thủ đã có mặt ở nước ta từ rất lâu…

Cây Phật thủ có tên khoa học là Citrus medica L.var.S arcodactylus Sw , thuộc họ Cam quýt, được trồng nhiều ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á. Ở nước ta, cùng với bưởi và thanh yên, Phật thủ đã được thuần dưỡng từ rất lâu đời nhưng lại không được trồng phổ biến như bưởi, có thể vì khả năng thích nghi kém hơn và không phải loại cây ăn quả. Do đó hiện nay Phật thủ chỉ còn được trồng rải rác ở một số vùng và gần tết mới thấy ửng vàng trên các phố phường.
Cây Phật thủ là cây gỗ nhỏ xanh tốt quanh năm; lá dày, hình bầu dục, mọc so le, mép lá có răng cưa nhỏ; cành có gai ngắn cứng nhọn; cây ra hoa vào đầu mùa hạ, quả chín vào mùa đông, quả to vỏ rất dày, vỏ quả chín màu vàng, cùi nhiều, phía đuôi quả thon thon như những ngón tay.

Y học hiện đại tìm thấy nhiều hoạt chất độc đáo trong Phật thủ

Quả Phật thủ có mùi thơm rất đặc sắc do chứa nhiều hạch tinh dầu trong vỏ, từ lâu người ta đã biết cách sử dụng nó để làm hương liệu nước hoa, mứt, rượu…Ngoài ra, quả cũng chứa nhiều Vitamin C, axit hữu cơ và một chất flavonoid là Hesperidin mà theo y học hiện đại là rất hữu ích trong điều trị ho và đau bụng.

Y học cổ truyền coi Phật thủ là vị thuốc quý

Theo tài liệu cổ của Đông y, Phật thủ có vị cay, đắng, chua; tính ấm; quy kinh phế và tỳ. Đây là vị thuốc có tác dụng điều hoà khí và trung tiêu; thư can, chống nôn, trợ tiêu hoá; chữa ho, hoá đờm.
Nhân dịp xuân về, xin được giới thiệu một số bài thuốc từ Phật thủ giúp các bạn có thể tận dụng loại quả quý này để chăm sóc sức khoẻ ngày tết cho gia đình:
Ø  Chữa say rượu: Phật thủ tươi 30g sắc uống.
Ø  Chữa viêm họng: Mỗi ngày dùng 5-10g quả khô với 100-200 ml nước chưng cách thuỷ rồi uống.
Ø  Chữa ho nhiều đờm: Phật thủ 30g, đường phèn 15g, hấp cách thuỷ 30ph, ngày ăn 1 lần.
Ø  Chữa đau lạnh bụng: Phật thủ khô 15g, gạo rang thơm 30g sắc uống ngày 3 lần.
Ø  Chữa ợ hơi: Vỏ phật thủ tươi ướp đường, nhai ăn ít một.
Tuy Phật thủ là vị thuốc tốt nhưng sách cổ viết “Phạm âm hư không dùng được”. Đông y cũng cho rằng nếu ăn nhiều Phật thủ sẽ bị hao tốn khí, người hư nhược kiêng dùng.
Hy vọng rằng với những bài thuốc kinh nghiệm đã được kiểm chứng lâu đời, tết này chúng ta không những được thưởng thức mùi thơm của Phật thủ quyện chặt trong làn khói hương mà còn được hưởng trọn vẹn “lộc tổ tiên”.

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN HOA LÀM THUỐC

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN HOA LÀM THUỐC

Có lẽ không phải ai cũng thích cái lạnh, cái mưa rả rích đến nao lòng của mùa xuân nhưng mỗi độ xuân về, trong chúng ta lại dấy lên sự hân hoan đến lạ thường bởi có lẽ đó là mùa của sự sống vươn lên, là mùa của trăm hoa đua nở. Những bông hoa ấy không chỉ vô tình hay hữu ý làm đẹp lòng người mà ẩn sau đó là món quà tinh tuý  tạo hoá dành tặng cho sức khoẻ của chúng ta.

  • HƯƠNG HOA – MỘT PHƯƠNG THUỐC NGỌT NGÀO
Những tác dụng tuyệt vời từ hương thơm quyến rũ của các loài hoa được cả thế giới thừa nhận và không ngừng nghiên cứu để giải đáp sự kỳ diệu này.

Từ những nghiên cứu khoa học:

- Ở Mỹ, qua các cuộc thử nghiệm trên hàng ngàn đối tượng, các nhà tâm lý đã chứng minh ảnh hưởng rõ rệt của hương hoa đối với tình cảm con người.

- Ở Nhật, một số nhà tư bản đã sử dụng mùi thơm của hoa hồng và hoa Tử la lan trong công xưởng để kích thích sự hưng phấn cho công nhân nhằm nâng cao năng suất lao động.

- Ở Pháp, kết quả thống kê cho thấy, những nữ công nhân tiếp xúc nhiều năm với hương liệu tự nhiên trong các nhà máy sản xuất nước hoa hầu như không mắc bệnh đường hô hấp.

- Ở một số nước như Tadzhikistan, Azerbaidzhan… người ta còn xây dựng những “Bệnh viện Hoa” trong đó những người bệnh được chữa trị bằng cách vừa thả hồn trong tiếng nhạc du dương vừa tận hưởng hương thơm quyến rũ của các loại hoa.

Đến cách lý giải vô cùng thỏa đáng về tác dụng huyền diệu của mùi hương

Khoa học đã khám phá ra những thành phần phức tạp trong tinh dầu - yếu tố tạo ra hương thơm đặc trưng cho mỗi loài hoa, trong đó chứa: alcohol, cetone, este có tác dụng sát trùng, điều hoà chức năng trung khu thần kinh và hạn chế tác hại của vi sinh vật gây bệnh.

Các nhà khoa học nhận thấy rằng, màu sắc và mùi hương đặc trưng của hoa khác nhau thì cũng mang đến những tác dụng phong phú khác nhau.

Loại hoa
Tác dụng
Hoa màu tím
Có thể làm cho phụ nữ có thai điềm tĩnh hơn
Hoa màu hồng
Giúp bệnh nhân ăn ngon miệng hơn
Hoa màu đỏ sẫm
Có thể làm tăng huyết áp
Hoa đinh hương
(chứa eugenol và oleanolic axit)
Giảm đau, trấn tĩnh cho những bệnh nhân đau răng
Hoa quế
Hoá đờm, giảm ho, bình xuyễn cho bệnh nhân viêm phế quản mạn tính.
Hoa hồng, hoa nhài (chứa citronellol, linalol)
Giúp cho người bị viêm họng, viêm amydal cảm thấy dễ chịu

  • PHẤN HOA MANG LẠI NHIỀU LỢI ÍCH CHO SỨC KHOẺ

Từ truyền thuyết xa xưa…

Tác dụng kỳ diệu của phấn hoa đã được cả thế giới công nhận và người ta coi đó là phần tinh tuý nhất của mỗi đoá hoa.

- Trong thần thoại cổ Hy Lạp từng kể “ Thần tiên trên trời không ăn thức ăn như người bình thường, chỉ ăn phấn hoa”.

- Hơn hai ngàn năm trước, sách Thần nông bản thảo cũng đã ghi chép : phấn hoa Bồ hoàng là loại thượng phẩm dùng để bồi bổ sức khoẻ.

Đến nghiên cứu hiện tại…

Chúng ta có thêm nhiều cơ sở để tin tưởng vào tác dụng của phấn hoa.

-Khoa học hiện đại chứng minh rằng: phấn hoa được cấu thành từ gần 100 hợp chất thiên nhiên, trong đó có chứa một lượng lớn protit, lipit, gluxit, vitamin, các loại men, hormone và nguyên tố vi lượng có giá trị y học cao.

- Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh phấn hoa có tác dụng hỗ trợ điều trị khá tốt với các chứng bệnh như: suy nhược thần kinh, bệnh lý mạch máu não, di chứng rối loạn tuần hoàn não, viêm tiền liệt tuyến, hội chứng tiền mãn kinh…

  • MỖI ĐOÁ HOA LÀ MỘT VỊ THUỐC QUÝ
Không chỉ hương hoa, phấn hoa là món quà quý báu đối với sức khoẻ con người mà mỗi đoá hoa, với sự tổng hoà của nhiều bộ phận, cũng là một vị thuốc mà tự nhiên ưu ái dành tặng chúng ta.

Theo y học cổ truyền, mỗi loại hoa đều có tính, vị và khả năng đi vào các đường kinh lạc khác nhau, từ đó tạo ra những tác dụng trị liệu đặc thù. Cụ thể như:

Công dụng
Loại hoa
Tác dụng sơ phong tán nhiệt, chuyên dùng để chữa các chứng bệnh vùng đầu mặt
Hoa cúc, Kim ngân hoa, Tân duy hoa, Mật mông hoa, Chi tử hoa, Cát căn hoa
Tác dụng hoá đờm chỉ khái, chuyên chữa các bệnh đường hô hấp
Khoản đông hoa, Dương kim hoa, Đỗ quyên hoa, hoa Hublong
Tác dụng thanh nhiệt lý khí, chuyên chữa bệnh đường tiêu hoá
Tuyền phúc hoa, Kim ngân hoa, Phù dung hoa, Biển đậu hoa, Hoè hoa, Thạch lựu hoa


Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Cây sâm Việt Nam (Panax vietnamensis) nguồn tài nguyên đặc biệt quý hiếm trong chữa bệnh và trong phát triển kinh tế

Cây sâm Việt Nam (Panax vietnamensis) nguồn tài nguyên đặc biệt quý hiếm trong chữa bệnh và trong phát triển kinh tế-Thực trạng và giải pháp

                                                  NGUYỄN BÁ HOẠT Phó Viện trưởng Viện Dược liệu

Hầu hết các loài trong chi Panax L. Họ Araliaceae đều được đánh giá là cây thuốc quý, giá trị kinh tế cao: 4 loài trong chi này đã được nghiên cứu kỹ về hoá học, dược lý lâm sàng và bào chế ra nhiều dạng thuốc phục vụ phòng chữa bệnh, đã và đang được phát triển lớn mang lại nguồn thu hàng trăm triệu đô la/năm cho mỗi quốc gia như: sâm Triều Tiên (Panax ginseng); sâm Mỹ (P. qiuquefolius); sâm Nhật (Panax japonicus) và tam thất (Panax pseudoginseng). Năm 1973, lần đầu tiên phát hiện cây sâm Việt Nam ở núi Ngọc Linh - Kon Tum. Nhiều công trình nghiên cứu về hoá học, dược lý, lâm sàng xác định sâm Việt Nam có giá trị chữa bệnh không thua kém 4 loài sâm trên. Đây là tài nguyên quý về giá trị y tế, đồng thời là đối tượng rất quý cho phát triển kinh tế trên địa bàn vùng cao, vùng sâu, vùng kinh tế đang rất khó khăn của Tầy Nguyên cần phải có thái độ, chính sách thích đáng và kịp thời nhằm nhanh chóng phát triển nguồn tài nguyên này.

I. CÂY SÂM VIỆT NAM (PANAX VIETNAMENSIS) ĐÃ ĐƯỢC XÁC MINH GIÁ TRỊ ĐẶC BIỆT QUÝ TRONG PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH

1. Xác định thành phần hoá học trong sâm Việt Nam

Nhiều tác giả nghiên cứu thành phần hoá học của cây sâm Việt Nam đã công b trên nhiều tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, 4 luận văn tiến sĩ nghiên cứu về thành phần hoá học sâm Việt Nam được bảo vệ ở Ba Lan (2); ở Nhật Bản (2). Từ sâm Việt Nam đã phân lập được 49 saponin, xác định câu trúc 25 saponin và xác định hàm lượng những saponin quan trọng quyết định giá trị của nhân sâm như: ginsenosid Rbl chiếm 2%; ginsenosid Rgl chiếm 1,4%; ginsenosid Rd chiếm 0,87%. Đã xác định hàm lượng saponin toàn phần (quyết định phẩm chất nhân sâm) đạt 12-15% trong đó saponin damaran kiểu ocotillol chiếm hơn 50% saponin toàn phần.
Đã xác định hợp chất đặc trưng của sâm Việt Nam là majonoside R2 có hàm lượng gấp 42 lần sâm Nhật (Panax japonicus var. major). Hợp cht này trong nhân sâm, sâm Mỹ và tam thất không có. Majonoside R2 là một khác biệt lý thú quyết định một s tác dụng dược lý đặc hữu của sâm Việt Nam và đang trở thành mục tiêu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Từ sâm Việt Nam đã phân lập và xác định cu trúc của 7 hợp chất polyacetylen, trong đó 2 hợp cht chủ yếu là panaxynol có hàm lượng 0,0084% và heptadecad có hàm lượng 0,0028%. Hai hợp chât này có trong thành phần của sâm Triều Tiên và đã được chứng minh có tác dụng kháng ung thư. Từ sâm Việt Nam đã xác định được 17 acid béo với hàm lượng 0,53%, trong đó acid linderic và acid limodinic đã được chứng minh có tác dụng chông lão hoá tế bào (antioxydant).

2. Đánh giá phẩm cht sâm Việt Nam qua kết quả nghiên cứu được lý thực nghiệm

Đã có nhiều công trình nghiên cứu tác dụng dược lý của sâm Việt Nam đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh Việt Nam tại trường Đại học Y - Dược Toyama và Đại học Hirosima Nhật Bản đều khẳng định sâm Việt Nam có tác dụng tăng lực, tăng cường hoạt động não bộ và sinh dục, tác dụng sinh thích nghi, tác dụng phòng chống phóng xạ, tác dụng kháng viêm và giảm đau, tác dụng hiệp lực với thuốc hạ đường huyết và hạ cholesterol máu, tác dụng kháng khuẩn đặc biệt trên chủng Streptococcus gây viêm họng. Tác dụng bảo vệ tế bào gan và gia tăng hàm lượng cytochrom P450 trong vi thể gan. Đặc biệt sâm Việt Nam có tác dụng hồi phục các rốì loạn bệnh lý gây bởi stress tâm lý. Như vậy những tác dụng dược lý tiêu biểu của sâm Triều Tiên đã được chứng minh đều có ở sâm Việt Nam tác dụng kháng khuẩn trên bệnh viêm họng, tác dụng antistress tâm lý là những tác dụng đặc hữu của sâm Việt Nam.
Tác dụng dược lý sâm Việt Nam đã được xác minh qua kết quả nghiên cứu lâm sàng thực nghiệm của một số chế phẩm như tinh sâm, viên ngậm... tại Viện Lão khoa Hà Nội, Quân y viện 175 TP. Hồ Chí Minh, Viện điều dưỡng PT. Hồ Chí Minh.
Những kết quả nghiên cứu cơ bản này khẳng định vị trí cây sâm Việt Nam sánh ngang với sâm Triều Tiên - một cây thuốc được coi là “thần dược” của thế giới. Các nước Nga, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên đều có viện chuyên nghiên cứu về cây sâm (Panax ginseng) tiếp tục khám phá những giá trị cao quý của cây thuốc này

II.       HIỆN TRẠNG CÂY SÂM VIỆT NAM, NHỮNG TỒN TẠI CẦN SỚM ĐƯỢC KHẮC PHỤC

Năm 1973 trong khói lửa của chiến tranh, đoàn điều tra dược liệu khu 5 dưới sự lãnh đạo của DS. Đào Kim Long lần đầu tiên đã phát hiện ra một loại sâm (Panax) mọc hoang với mật độ dày đặc trong một vùng phân bố hẹp ở độ cao 2.200m thuộc núi Ngọc Linh huyện Đakto tỉnh Kom Tum. Đoàn thu mẫu thực vật và dược liệu sơ bộ xác định là Trúc tiết nhân sâm Panax articulatus L. và gửi mẫu dược liệu ra miền bắc xác định chất lượng. DS Nguyễn Thơi Nhâm nhận được nguyên liệu đã đưa phân tích đánh giá tại Viện Dược Liệu Hà Nội và viện cây thuốc Poznan Ba Lan. Kết quả ban đầu về hoá học cây sâm Việt Nam hoàn toàn giống sâm Triều Tiên do đó DS Nguyễn Thơi Nhâm đề nghị tên sâm Việt Nam là Panax ginsengvar. K5. Đến năm 1988 GS. Gruvesky và Hà Thị Dung xác định đây là loài mới của khoa học, đặt tên Panax vietnamesis khẳng định một loài đặc hữu của Việt Nam trong chi Panaxhọ Araliaceae. Nhận thức được giá trị của cây sâm Việt Nam nên ngày 14/3/1978 Bộ Y tế đã ra quyết định tổ chức đơn vị nghiên cứu sâm trực thuộc Trường đại học Y Dược thành ph Hồ Chí Minh, đến năm 1985 đổi tên thành Trung tâm nghiên cứu sâm Việt Nam. Năm 1992 sát nhập với phân viện dược liệu, Trung tâm nghiên cứu sâm đổi tên thành Liên hiệp khoa học và sản xuất sâm Việt Nam.Năm 1997 chuyển sang trực thuộc Viện Dược liệu và đổi tên thành Trung tâm nghiên cứu sâm và dược liệu TP. Hồ Chí Minh. Sự phát triển gắn liền với các công trình nghiên cứu khá toàn diện cây sâm Việt Nam.
Sau khi giải phóng miền Nam năm 1976 sở y tế Gia Lai - Kon Tum được UBND tỉnh đồng ý đã tổ chức công ty Dược liệu Ngọc Linh nhằm bảo vệ và phát triển cây Sâm Việt Nam dưới tán rừng tại các vùng phân bố tập chung. Đồng thời tổ chức trồng thâm canh trên đồng ruộng ở độ cao 1.200m. Sau năm 1990 do chuyển đổi tổ chức dẫn tới công ty giải thể kéo theo cây sâm ở Kon Tum bị khai thác kiệt quệ, đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Từ 1995 trở lại đây Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Kon Tum nỗ lực khôi phục và phát triển nhưng tiến triển rất chậm.
Vùng phân bố cây sâm Việt Nam tới 3 xã vùng cao của huyện Trà My, năm 1978 Trạm dược liệu Quảng Nam Đà Nng tổ chức Trạm bảo vệ và phát triển cây sâm Việt Nam tại xã Trà Linh huyện Trà My. Sau khi trạm dược liệu giải thể Trạm trồng sâm Trà Linh vẫn được giữ lại, trực thuộc Công ty Dược liệu Quảng Nam Đà Nấng. Nhưng năm 1988 - 1992 cây sâm của Quảng Nam đứng trước nguy cơ bị khai thác kiệt, Trại trồng sâm có nguy cơ bị giải tán. Khi tách tỉnh sở Y tế Quảng Nam đã quyết tâm bảo tồn trại trồng sâm để có cơ sở khôi phục phát triển. Được UBND tỉnh ủng hộ năm 1998 Sở Y tế đã tổ chức lại Trạm trồng sâm và đổi tên thành Trạm nuôi trồng và phát triển dược liệu Trà Linh. Nhờ củng c tổ chức tăng cường cao nên cây sâm ở Quảng Nam đã được phục hồi và phát triển, sau 5 năm củng c (1995 - 2000) nht là 3 năm tổ chức trạm nuôi trồng và phát triển dược liệu, vườn sâm ở Trà Linh Trà My Quảng Nam phát triển cả về s lượng và chất lượng cây trồng.
Thực trạng cây sâm Việt Nam hiện nay có thể coi là thoát hiểm tuyệt chủng nhờ vườn sâm Trà My đang giữ gần 30 vạn cá thể trên diện tích xp xỉ 3ha dưới tán rừng. Cây sâm được chăm sóc bảo vệ chu đáo, sinh trưởng phát triển tốt cung cấp vài vạn hạt giống 1 năm. Kon Tum cây sâm được lưu giữ trên diện tích gần 1 ha nhưng cây sinh trưởng phát triển kém, du hiệu sâu bệnh phổ biến. Sở KHCN và MT Lâm Đồng đầu tư nghiên cứu đánh giá nhập nội cây sâm Việt Nam. Kết quả bước đầu cây sâm sinh trưởng và phát triển bình thường, đã có một số cây ra hoa kết quả, cây sâm Việt Nam có triển vọng phát triển tại Lâm Đồng.
Trong khi cây sâm Việt Nam còn trong tự nhiên là rt ít, cây sâm trồng trong dân chưa thống kê được, trên thị trường giá củ sâm Việt Nam tăng nhanh từ 2,5 triệu đồng/ kg năm 1997 lên 5 triệu đồng/kg năm 2001 dẫn tới tình trạng lùng sục khai thác sâm quyết liệt. Cây sâm ở Kon Tum đã trở thành “cây vàng” như nhiều người nói, nguy cơ tuyệt chủng vẫn rình rập hàng ngày.
Từ thực tiễn nêu trên chúng ta thy vai trò của công tác tổ chức đối với sự tồn vong của cây sâm Việt Nam là rt lớn. Trước thực trạng đang kêu cứu của cây sâm đặc hữu, cần phải có giải pháp kịp thời nghiêm túc cả về tổ chức và đầu tư mới có thể khôi phục.

III.    NHỮNG ĐỀ NGHỊ V GIẢI PHÁP NHM KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN CÂY SÂM VIỆT NAM

Cần phải trình Bộ KHCN&MT, Bộ Kế hoạch Đầu tư duyệt cho một chương trình nghiên cứu phát triển cây sâm Việt Nam, tạo vùng sản xuất hàng hoá gắn với chiến lược phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường vùng núi cao. Đây là chương trình khoa học - kinh tế - xã hội thực thi trong thời gian 2 nhiệm kỳ 5 năm (10 năm) được chia ra 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Xây dựng hệ thống vường giống hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và chuẩn hoá phẩm chất giống đi từ 2 phương thức: sản xuất giống từ hạt và sản xuất giống invitro. Thời gian từ 3 đến 5 năm đầu yêu cầu phải sản xuâ't được hàng triệu cây giống một năm đủ đáp ứng nhu cầu sản xuấk Mô hình vườn giống quốc doanh của các lâm trường, trạm trại, vườn giống thôn bản, trang trại
Giai đoạn 2: Xây dựng mô hình sản xuất, hoàn thiện kỹ thuật trồng sâm bán tự nhiên và trồng thâm canh trên đất nương rẫy, tạo nên những vùng sản xuất tập trung có sản lượng hàng hoá. Biện pháp kỹ thuật - kinh tế - xã hội được vận dụng chặt chẽ trên cơ sở sản xuất trang trại hộ nông dân dưới sự quản lý và bảo trợ của chính quyền xã, bản. Thời gian của giai đoạn 2 kéo dài 5 năm định hình được một số mô hình để tổng kết nhân rộng.
Giai đoạn 3: Mở rộng mô hình sản xuất và tuyên truyền đào tạo kỹ thuật cho nông dân; Tổng kết nhân rộng mô hình vườn giống sản xuất, trang trại và nồng trại, hộ nông dân trồng sâm. Hoàn thiện các chế độ chính sách cho vùng nguyên liệu cây đặc sản về tín dụng, chính sách đầu tư và thu mua nguyên liệu.
Saú 10 năm có thể tổng kết đề án với những kết quả cụ thể về khoa học, tổ chức sản xuất, chế độ chính sách và tạo được vùng nguyên liệu hàng hóá thực sự trên địa bàn vùng cao.
Thực tế đang đòi hỏi chương trình khoa học công nghệ quốc gia sớm quyết định cho cây sâm Việt Nam một đề án nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên đặc biệt quý của đất nước.